14/02/2009

XỬ LÝ THAM NHŨNG KIỂU NỬA VỜI

.
Báo Tiền Phong ngày 13/2/2009 cho hay: Ông Diệp Văn Bình "được phân công chỉ đạo các cán bộ nhân viên văn phòng", và ông Nguyễn Nhật Duy "được phân công trực tiếp" đi "mua trên 1.200 phần quà tặng cho cán bộ CNVC khó khăn, trong đó có 250 phần quà tặng công nhân nghèo tại các khu công nghiệp, khu chế xuất Cần Thơ", giá trị mỗi phần quà là 150 ngàn đồng. Số liệu của Liên Đoàn Lao Động Thành phố Cần Thơ công bố là 1.235 suất (phần), giá trị mỗi suất khoảng 150 ngàn đồng.

Cũng theo Tiền Phong, "quà được phát vào sáng ngày 21/1 (tức 27 Tết) với thông báo trị giá 150.000 đồng/phần. Ngay sau đó, do nghi ngờ, một số công nhân đã mang đến chợ Cần Thơ đối chiếu giá và họ phát hiện mỗi phần quà giống y như phần mà họ được nhận, giá chỉ có 90.000 đồng. Lãnh đạo Công đoàn các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ đã niêm phong một phần quà, lưu tại văn phòng để làm bằng chứng đồng thời tố cáo với cơ quan chức năng".

Bị công nhân tố cáo ăn xén ăn bớt với chứng cứ rành rành ra đó, lãnh đạo Liên đoàn Lao Động (LĐLĐ) Thành phố Cần Thơ lại giải trình rằng "Do số đối tượng thuộc diện được tặng quà Tết tăng lên nên Ban thường vụ LĐLĐ họp thống nhất giảm giá trị mỗi phần quà từ 150.000 đồng còn 125.000 đồng", nghĩa là toàn bộ các phần quà tặng đều bị LĐLĐ giảm giá so với giá trị công bố, không có trường hợp nào ngoại lệ. Vì vậy, theo LĐLĐ thì số tiền bị giảm là: 25.000 đồng x 1.235 phần = giảm 30.875.000 đồng.

So với giá do công nhân khảo sát ngoài thị trường thì giá trị quà tặng bị mất là: 150.000 đồng - 90.000 đồng x 1.235 phần = 71.100.000 đồng.

Mặc dù đã được Ủy ban kiểm tra và Ban tài chính của LĐLĐ Cần Thơ "nâng giá" cho mỗi phần quà lên 106.000 đồng thì giá trị số quà tặng bị giảm vẫn gần gấp đôi con số do LĐLĐ TP Cần Thơ giải trình: 150.000 đồng - 106.000 đồng x 1.235 phần = 54.340.000 đồng.

Ai cũng thấy rằng người lao động phẫn nộ không phải do giá trị quà tặng được nhận thấp, nếu ngân sách Nhà nước eo hẹp mà số lượng người khó khăn cần được giúp đỡ nhiều, giả sử mỗi người được tặng quà giá trị 50 ngàn đồng/phần họ vẫn vui lòng nếu phía LĐLĐ cứ thông báo rõ giá trị thực của nó là 50 ngàn đồng/phần; đằng này thông báo giá trị quà thì cao, nhưng thực chất lại không đúng, làm cho người lao động cho rằng cán bộ Nhà nước đã có hành vi dối trá, lừa bịp, lợi dụng danh nghĩa họ để tham nhũng chế độ mà họ được hưởng.

Khôi hài nhất là lý do xử lý được đưa ra: Ông Diệp văn Bình có lỗi "buông lỏng quản lý, để xảy ra tiêu cực", còn ông Nguyễn Nhật Duy (người được phân công trực tiếp đi mua quà) có lỗi "thiếu trách nhiệm dẫn đến thiệt hại", thì chả biết ông Duy "thiếu trách nhiệm" với ai, chẳng lẽ "thiếu trách nhiệm" với bà bán hàng ngoài chợ? Khôi hài hơn nữa là thiệt hại chỉ có 19,4 triệu đồng.

Rõ ràng, từ đầu đến cuối không hề có 2 danh sách được chọn tặng quà (trước và sau cuộc họp mà LĐLĐ Cần Thơ cho rằng số người được tặng quà tăng lên), giá trị quà bị cắt giảm xuống so với chứng từ thanh toán để nhận tiền Ngân sách, vậy số tiền chênh lệch này chạy vào túi ai?

Ngày 13/2, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Dân Chính Đảng (thuộc Thành ủy Cần Thơ) đã công bố quyết định kỷ luật đối với 2 đảng viên thuộc Liên đoàn lao động (LĐLĐ) Thành phố Cần Thơ với hình thức: cách chức vụ trong Đảng đối với ông Diệp văn Bình, Bí thư Chi bộ 1; Đảng ủy viên Đảng ủy LĐLĐ Cần Thơ; Ủy viên thường vụ LĐLĐ Cần Thơ, Chánh văn phòng LĐLĐCT; cách chức ủy viên Chi bộ 1 đối với ông Nguyễn Nhật Duy, Phó Chánh văn phòng LĐLĐ; nhưng không đá động gì đến số tiền ngân sách bị thất thoát.

Ở khu vực nông thôn, cán bộ thôn, xã dùng 1.001 cách bớt tiền người nghèo, ở khu vực thành thị , tổ chức Công đoàn đáng lẽ phải làm nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ quyền lợi, giúp đỡ giai cấp công nhân (như Điều lệ của tổ chức này quy định) thì Công đoàn lại bớt xén tiền của họ. Người nghèo ở Việt Nam, dù ở nơi nào cũng đều bị cán bộ "ăn bớt ăn xén" trên đầu trên cổ như nhau.

Những con số thất thoát ở trên do tôi căn cứ vào số liệu của báo Tiền Phong và LĐLĐ Thành phố Cần Thơ công bố mà tính ra rất dễ dàng; nhưng đến thời điểm này, câu hỏi số người được tặng quà tăng lên là bao nhiêu, tổng số phần quà bị bớt tiền chính xác là bao nhiêu, số tiền thất thoát chạy đi đâu, ai chịu trách nhiệm bồi thường số tiền thất thoát này vẫn chưa được lãnh đạo LĐLĐ Cần Thơ trả lời thoả đáng, làm cho người dân có suy nghĩ rằng: Vì bị tố cáo có bằng chứng đầy đủ nên bắt buộc phải xử lý kẻo mang tiếng, nhưng xử lý tham nhũng kiểu nửa vời cũng là một hình thức mị dân để bao che cho tham nhũng mà thôi.

Tạ Phong Tần

.

13/02/2009

TẢN MẠN VỀ VALENTINE

.


Valentine, nghe cái tên là biết xuất xứ của từ này không phải ở Việt Nam rồi. Ngày Valentine còn được gọi là Ngày Lễ Tình Nhân. Theo truyền thuyết thì Ngày lễ thánh Valentine bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ ba thời đế chế La Mã.

Tuy mỗi quốc gia có những quan niệm, truyền thuyết về ngày Valentine khác nhau, nhưng nhìn chung, đây là một phong tục tập quán của nền văn hóa phương Tây được du nhập vào Việt Nam và bắt đầu trở nên rầm rộ, ồn ào từ khoảng năm 2004 đến nay nhờ "công lao" của báo chí đã "nhiệt tình lăng-xê" biến nó thành ngày hội ở nước ta, đặc biệt là ở khu vực các đô thị lớn, còn khu vực nông thôn người dân hầu như không biết.

Mỗi năm trước khi đến ngày Valentine (14/2) khoảng một tuần, y như là các báo trong nước đều liên tục có những bài viết quảng bá cho thanh niên Việt Nam hưởng ứng nét văn hóa phương Tây này. Từ việc tổ chức các chương trình vui chơi, giải trí, kinh doanh quà tặng... thuần túy để chào mừng ngày Valentine của các cơ quan, tổ chức thuộc Nhà nước lẫn tư nhân; đến dạy cách chuẩn bị "bữa ăn đặc biệt" (VTV), thi đấu chó (Vietnamnet), nâng lên thành "mỹ tục" dẫn đến tình trạng "cháy nhà nghỉ", và cứ "đến hẹn lại lên", con số thống kê trẻ chưa thành niên nạo phá thai ở các cơ sở y tế tăng vọt, năm sau cao hơn năm trước.

Năm nay, người ta còn tổ chức dạ tiệc cho 500 cặp tình nhân công khai hôn tập thể ở Nhà thi đấu Phan Đình Phùng (Sài Gòn). Người trẻ bây giờ thể hiện tình yêu khác xa với phong tục tập quán yêu đương e ấp, kín kẽ của người Việt thời xưa, khi mà nam nữ yêu nhau tỏ tình cũng không dám nói thẳng với nhau, phải mượn sự vật bâng quơ nào đó để nói nhắn, nói gởi, làm gì dám hôn công khai như ngày nay: "Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?/ Mận hỏi thì đào xin thưa/ Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào".

Người Việt chấp nhận một phong tục phương Tây một cách vô tư, không thấy ai lên án là "No cơm ấm cật, rậm rật ăn chơi" hay "Mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử khác nhau". Tuy nhiên, có những "giá trị văn hóa nhân loại" khác như quyền tự do thông tin, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tự do tôn giáo... thì bị coi là "cấm kỵ". Bởi lẽ, đố ai tìm được bản "Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966)" mà Việt Nam đã xin tham gia ngày 24-9-1982 xuất bản trong nước, còn lên mạng tìm đọc thì bạn phải thông thạo tiếng Anh hoặc có chút kiến thức tin học đủ để leo qua cái "vạn lý tường lửa" thì mới đọc được ở các trang của nước ngoài.

Hóa ra, nói chung hễ "văn hóa phương Tây" mà ăn chơi, hưởng thụ, đú đởn... thì bạn được tự do làm, tự do cổ vũ, được truyền thông Nhà nước lẫn cơ quan tổ chức Nhà nước nhiệt tình ủng hộ; còn các "giá trị nhân quyền" thì xin miễn đi nhé!

Tạ Phong Tần

.
.

12/02/2009

BÁC GIÁP CŨNG CÓ TRỐNG ĐỒNG

.


Vào ngày 3/2/2009 (tức mùng 9 Tết Kỷ Sửu), phái đoàn "quân ta" đã đến chúc mừng bác Giáp và đã chụp cái hình trên, đăng rõ to trên báo của "quan ta" đấy nhé. Không phải "các thế lực thù địch bên ngoài" chúng nó "soi mói" đâu!

Hình như các bác "ở trên" có mode khoái trống đồng thì phải.

Tạ Phong Tần
.

11/02/2009

NHÂN QUYỀN ĐANG BỊ XÂM PHẠM???

.
Từ lý luận...

Toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành không có khái niệm "tù chính trị". tức những người bị bắt, bị khởi tố, truy tố, xét xử ở Việt Nam đều là tội phạm hình sự giống nhau, được có quyền và nghĩa vụ giống nhau, không phân biệt người đó phạm tội gì. Thậm chí, người chưa thành niên phạm tội, người bị đề nghị truy tố mức án từ chung thân tới tử hình, từ lúc điều tra cho đến khi xét xử bắt buộc phải có Luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo.

Ngày 20/6/2007, vừa tới New York, trong cuộc tiếp xúc với phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, thành phần có đại diện Việt kiều Mỹ và Canada, ông Nguyễn Minh Triết - Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã tái khẳng định quan điểm: "Việt Nam không có tù nhân chính trị, chỉ có tù nhân vi phạm luật pháp mà thôi".

"Tối 24/6/2007, Hãng truyền hình CNN đã phát hình cuộc phỏng vấn Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong chương trình “Late Edition” (ghi hình vào ngày 22-6). Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói: “Đất nước chúng tôi đã trải qua thời kỳ chiến đấu gian khổ để giành tự do, độc lập, chủ quyền cho đất nước. Rất nhiều người trong chúng tôi đã bị bắt, bị tù đày, tra tấn. Vì thế, hơn ai hết, chúng tôi yêu quý nhân quyền. Chúng tôi tôn trọng nhân quyền. Tôi nghĩ rằng Hoa Kỳ và Việt Nam, với lịch sử khác nhau, có hệ thống pháp lý khác nhau và đó là lý do vì sao chúng ta có những nhận thức khác nhau về các vấn đề khác nhau”.".

Đến thực tiễn

Theo RFA, vào ngày thứ Tư 4/2/2009 vừa qua, LS Lê Trần Luật đến Cơ quan An Ninh Điều Tra Thành phố Hải Phòng để làm thủ tục bào chữa cho cô Phạm Thanh Nghiên (người đang bị tạm giam về hành vi "Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN" theo Điều 88 Bộ Luật Hình Sự) thì ông Triềm - Phó Thủ trưởng Cơ quan An Ninh Điều Tra Hải Phòng, là người trực tiếp điều tra vụ án của cô Phạm Thanh Nghiên, thông báo rằng ông Triềm sẽ triệu tập ông Luật đến Cơ quan An Ninh Điều Tra Hải Phòng để làm việc với tư cách "là người có liên quan đến vụ án của cô Nghiên”.

Nếu thật sự ông Triềm có phát biểu như thế thì tôi nghĩ rằng ông Triềm nên tạm thời ngưng công tác để đi học lại cho kỹ Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự rồi hãy làm việc tiếp. Bởi lẽ trong Tố Tụng Hình Sự không có khái niệm "người có liên quan" chung chung, mà là "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan". Đối tượng chỉ tham gia vụ án hình sự với tư cách "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" khi nào nội dung vụ án đó có cả yếu tố hình sự lẫn yếu tố dân sự, liên quan đến quyền lợi hoặc nghĩa vụ của một bên thứ ba mà bên thứ ba này hoàn toàn ngay tình (không có lỗi).

Ví dụ: A hỏi mượn xe máy của B để đi công việc. B biết A có Giấy phép lái xe môtô nên đồng ý cho A mượn xe. A điều khiển xe gây tai nạn giao thông cho C nên bị bắt giữ cả người lẫn xe. A bị truy tố, xét xử về tội "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" (quy định tại Điều 202 BLHS). Như vậy, tư cách tham gia tố tụng của mỗi người là: A là bị cáo, C là người bị hại, B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án. Quyền lợi của B trong vụ án này là được nhận lại chiếc xe máy của mình. Nghĩa vụ của B là phải chứng minh chiếc xe máy đó thuộc quyền sở hữu của B để được nhận lại xe. Trường hợp A không có tiền bồi thường thiệt hại cho C thì nghĩa vụ tiếp theo của B là B phải bồi thường thiệt hại cho C vì B là chủ phương tiện. Sau đó B có quyền khởi kiện một vụ dân sự khác đối với A để đòi lại số tiền B đã bồi thường cho C do lỗi của A.

Trong vụ án hình sự mà tội danh là "Tuyên truyền chống Nhà nước XHCN" rõ ràng không hề có dính dáng chút xíu nào đến yếu tố dân sự (đòi lại tài sản, bồi thường thiệt hại, v.v...) thì đương nhiên không thể tự nhiên chui ra "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" vụ án được. Như vậy, Cơ quan An Ninh Điều Tra Thành phố Hải Phòng nếu muốn triệu tập bất kỳ ai tham gia tố tụng với tư cách "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" để làm việc thì trước hết Cơ quan ANĐT phải chứng minh cho người đó thấy rằng họ có quyền lợi gì, hoặc họ có nghĩa vụ gì liên quan đến vụ án, không được quyền nói chung chung là "người có liên quan" để triệu tập người khác, vì đó là một hình thức lạm dụng quyền lực để vi phạm pháp luật. Cá nhân tôi không hiểu ông Luật có quyền lợi gì hoặc có nghĩa vụ gì trong vụ án hình sự của cô Nghiên.

Luật sư Lê Trần Luật còn cho biết thêm:

Ngày 10/2/2009 ông nhận được Thư mời không số ký ngày 06/2/2009 của Ban Chủ Nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận, nội dung mời về Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận: “Nhằm làm rõ vụ việc và tính chất, mức độ sai phạm” trong hoạt động nghề ngiệp của ông. Căn cứ để Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận gởi Thư Mời này là dựa trên Công văn đề nghị của Công an tỉnh Ninh Thuận và Sở Tư Pháp tỉnh Ninh Thuận.

Ông Lê Trần Luật đã có Công văn trả lời Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận như sau:

"Theo Hợp đồng đã ký kết với khách hàng và kế hoạch đã sắp xếp trước tôi phải đi công tác tại Hà Nội (từ ngày 11/02/2009 đến ngày 14/2/2009); do đó, không thể có mặt đúng ngày giờ theo Thư mời.

Quá trình hoạt động nghề nghiệp, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, tôi không thấy mình sai phạm bất kỳ điều gì. Để thuận tiện cho công việc chung mà Đoàn Luật sư đã nêu, tôi yêu cầu Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận cung cấp cho tôi toàn bộ các Công văn của Công an tỉnh Ninh Thuận và Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận. Tôi muốn được biết trước nội dung của các Công văn đó cho rằng tôi sai phạm điều nào thì tôi mới giải trình được; Đồng thời, liệu dựa trên các Công văn đó mà Đoàn Luật sư mời tôi làm việc thì có đúng các quy định pháp luật hay không?

Mặt khác, để không mất thời gian của các bên, nếu Đoàn Luật sư tỉnh Ninh Thuận vẫn quyết định mời tôi về để giải trình vào ngày khác, thì tôi đề nghị ngày làm việc đó phải có đại diện của Công an tỉnh Ninh Thuận và đại điện Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận, và tôi chỉ giải trình một lần. Nội dung làm việc phải được lập biên bản, và tôi phải được giữ một bản biên bản này.".

Ở đây, cần phải nói cho rõ là ông Luật đang nhận bào chữa cho các bị can giáo dân Thái Hà, những người hoạt động đấu tranh đòi xây dựng nền dân chủ và xã hội dân sự ở Việt Nam, tố cáo nhà cầm quyền Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa-Trường Sa như ông Nguyễn Xuân Nghĩa, cô Phạm Thanh Nghiên, anh Phạm Văn Trội, ông Nguyễn Văn Túc...

Liên kết các sự việc trên khiến người ta có thể hiểu rằng: Cái mà nhà cầm quyền Việt Nam luôn luôn khẳng định với thế giới rằng "Việt Nam không có tù nhân chính trị", "Chúng tôi luôn tôn trọng nhân quyền" chỉ là "nói cho vui", các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành đã không được chính nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh; bỡi lẽ tại Việt Nam có người đang cố tình thực hiện sự phân biệt đối xử, xâm phạm quyền được bào chữa của bị can, bị cáo bằng cách dùng mọi thủ đoạn, kể cả thủ đoạn vi phạm pháp luật, nhằm mục đích cản trở Luật sư tham gia vụ án.

Tạ Phong Tần
.
Photobucket

Photobucket
(Lưu ý: Muốn đọc rõ văn bản thì nên tải save vào máy tính hoặc gởi mail cho tôi để nhận ảnh dung lượng lớn hơn)
.

05/02/2009

TRÌNH ĐỘ TIẾNG VIỆT CHỈ THẾ NÀY THÔI À?

.
Mời đọc bản tin ở hình trên đây để thấy trình độ tiếng Việt của báo Công An Nhân Dân. Thiệt là tụi nghịp wé đi thui!

Xem bản Online ở đây
.

PHIM ĐƯỢC CÔNG BỐ SAU 27 NĂM KHÓA KÍN TRONG KÉT

.
Phim đang phổ biến trên mạng tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973), ông đoạt tất thảy 4 giải Oscars vào năm 1973 ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon). Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 27 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Tớ không rành tiếng Anh nên không biết phim nói cái gì, và cũng mới xem có vài phút đầu phim, chưa có thời gian xem hết phim. Tớ post lên đây cho mọi người cùng xem để tham khảo, nếu bạn nào xem xong và hiểu nội dung thì vui lòng kể lại nhé!

Tạ Phong Tần



VietnamVietnam by John Ford from hoanggiangthanh on Vimeo.

04/02/2009

NÔNG DÂN VÀ ĐẤT

.
Xoay quanh cuộc tranh luận về bút ký LONG ĐONG ĐỜI CỐ NÔNG, tôi thật sự cảm động khi đọc được trong tận cùng thâm tâm của các bạn một sự đồng cảm sâu xa với thân phận người nông dân - một bộ phận chiếm tỷ lệ cao nhất trên đất nước chúng ta. Ở mỗi ý kiến của các bạn cho thấy một trình độ, một tri thức, một vị trí xã hội khác nhau, có bạn đang sống và làm việc ở nước ngoài . . . nhưng tất cả có cùng một cái tâm, một cái nhìn đầy nghiêm túc. Tôi, với tư cách là người kể chuyện, xin kể tiếp câu chuyện về nông dân trong một bối cảnh khác với hy vọng làm phong phú thêm những thông tin mà các bạn đang thiếu, đang cần.


* * *
Buổi sáng ngồi uống café, nghe mấy anh ở Cà Mau bàn tán về chuyện Khánh Bình Tây dạo nầy căng thẳng lắm, vừa qua có một chuyện bắt bớ xảy ra, một số chị em phụ nữ phản ứng bằng cách xé toạc áo quần rồi hô tóan lên nói hiếp dâm, làm cho chính quyền phải bất lực. Làm báo mà nghe những chuyện như thế ai nỡ ngồi nhà, vậy là tôi xách xe ra đi. Cũng may, vừa qua chợ thì gặp anh Đào Văn, phóng viên báo ảnh Đất Mũi đang chuẩn bị về quê, tôi bảo: Mầy bỏ chiếc xe tùa hia của mầy lại đi, lên xe đi với tao, hai thằng đi một chiếc cho vui.

Thật không có gì may mắn hơn khi đi công tác vùng sâu vùng xa mà lại có bạn đồng hành, hơn nữa lại là bạn đồng nghiệp. Đào Văn làm báo chỉ mới ba năm, cái mặt còn hôi sữa nhưng đã sớm khẳn định tay nghề, ngòai việc chiếm lĩnh diễn đàn ở báo ảnh Đất Mũi, anh cộng tác thường xuyên với báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Văn Hóa, Nông Nghiệp Việt Nam . . . nhờ vậy mà nhuận bút của anh chẳng những đủ nuôi thân mà còn nuôi một thằng em ăn học và giúp đỡ gia đình. Nhà anh nghèo, cha anh - chú Hai Hôn - lại mắc một chứng bệnh ngặt nghèo - bệnh ung thư gan - đang nằm chờ chết. Ở chốn đô thị phồn hoa với cái tuổi 22, cuộc sống đủ trò cám dỗ nhưng Đào Văn lại sống rất nghiêm túc để làm việc và phải tính tóan chi li, nhiều lúc anh tâm sự với tôi rằng mỗi tháng anh cần tối thiểu bao nhiêu tiền để trả tiền thuê nhà trọ, tiền ăn, đóng bảo hiểm, trả góp chiếc xe, gởi về cho mẹ . . . Bây giờ thì tôi mới thấu hiểu những nổi niềm tâm sự ấy khi bước vào nhà anh, một căn nhà lá ọp ẹp nằm bên bờ kinh Cơi Năm xã Khánh Bình Tây. Cha anh đang nằm liệt giường, mẹ anh ngày ngày tần tảo, bà khoe với tôi rằng cái nhà tắm xây dựng cơ bản và cái tivi nghĩa địa là tiền hai giải báo chí hôm trước của Đào Văn, nếu không thì cả đời bà cũng không dám mơ tới, nhà chỉ có năm công ruộng nhưng đã cố cho người ta một lượng vàng để chạy chửa cho ông, đất đã cố rồi, nhưng để có gạo ăn, bà phải thuê lại với giá mỗi công một năm mười giạ lúa. Tôi hỏi:

- Đất vườn mình còn rộng, lại nhiều ao sao thiếm không chăn nuôi, trồng trọt để có thêm mà xoay sở?

- Ở đây hở cái gì là bọn trộm lấy cái nấy, có ai dám trồng trọt chăn nuôi gì đâu, cách đây hai tháng, chúng rinh của tôi hết ba con heo, mới đêm qua, chúng cạy cửa vào nhà lấy hết sáu bao lúa. Tôi hỏi chính quyền có biết chuyện ấy không, thiếm lại nói:

- Biết để làm gì, tới xuồng máy của chủ tịch xã mà còn bị trộm thì có của ai mà chúng từ, đành chịu! Đi đến đâu trong cái xóm nầy cũng nghe bà con óan than vì nạn trộm. Có lẽ, trộm cắp ở đây đã thành một thứ nghề để mưu sinh sau cái nghề làm mướn. Khánh Bình Tây có 2.600 hộ dân thì đã có hơn bốn mươi phần trăm sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần năm trăm hộ dân không đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi nầy không biết phải làm gì để sống. Làm mướn ư ? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường mót lúa, giũ rơm thì bị cán bộ nông trường đốt thúng, đốt rơm. Mùa mưa, họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau thì bị đuổi xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương bởi dưới mắt của cán bộ nông trường, họ là những phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán thì bị các anh bảo vệ nguồi lợi thủy sản vây bắt vì cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên. Vậy là số phận của hàng ngàn con người ấy trở thành cái kiếp người cơm vải cơm rơi, biết đâu nẽo đất đường trời mà đi. Vậy thì đi ăn trộm!

Tình cờ, chúng tôi ghé nhà bác Mười Hô, một gia đình cố cựu ở đây, ông từng là chánh án tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, rồi về đây làm bí thư xã ba năm. Năm nay ông đã 75 tuổi, con cháu đầy đàn không đếm hết nhưng đất ruộng thì chỉ có mười công, và mọi chi phí cho mấy chục con người chỉ đè lên mười công ruộng. Bác Mười gái năm nay đã 73 tuổi mà vẫn còn phải đi cấy mướn. Bác nói:

- Còn sức ngày nào thì phải làm ngày nấy, không làm lấy gì sống, mười công đất của tôi tuy đang làm nhưng đã cố cho người ta để lấy hai cây rưởi vàng mà xoay sở, người ta cho tôi thuê lại mỗi năm một trăm giạ lúa. Đã vậy, năm ngóai thằng con trai thứ sáu của tôi nhận khoán của nông trường một con kinh để bắt cá với giá ba mươi sáu triệu đồng, cuối cùng chỉ thu được hai mười triệu, lỗ mười sáu triệu, nó phải lấy giấy chủ quyền đất thế chấp cho ngân hàng huyện vay mười sáu triệu đồng để trả cho người ta. Coi như miếng đất của tôi đang nằm dưới hai đống nợ. Cuối cùng chắc cũng phải bán đất thôi chớ lấy gì trả. Chúng tôi thử làm một cuộc thăm dò tại Cơi Năm, đại bộ phập nông dân có đất ở đây cũng đã cầm cố cho người khác rồi thuê lại làm với giá mỗi công một năm mười giạ lúa. Nguyên nhân thật đơn giản, đơn giản như chính cái cảnh đời của họ: ruộng đất thì có hạn mà con cái thì mỗi ngày một đông trong khi tất cả chi phí gia đình chỉ dựa vào hạt lúa, chỉ cần một người bệnh là cố đất. Chỉ có điều làm tôi thắc mắc là người đầu tư cho việc kinh doanh đất đai nầy lại là ba ông bí thư chi bộ, trưởng ban nhân dân và trưởng công an ấp, mỗi ông nắm trong tay hàng trăm công rồi cho những khổ chủ ấy thuê lại mỗi năm thu hàng ngàn giạ lúa. Khi lãi mẹ đẽ lãi con, chủ đất buộc lòng phải sang bán thì các ông cũng chính là người mua lại, như ông Bảy Châu, nguyên là bí thư chi bộ ấp nầy, khởi nghiệp của gia đình ông chỉ có bảy công ruộng, nhưng kết quả của một quá trình kinh doanh cầm cố, số ruộng của ông bây giờ có cả trăm công. Tôi hỏi anh Sáu Trung, bí thư xã rằng anh có biết việc nầy không, anh ngập ngừng nói:

- Chuyện ấy thì có, nhưng họ thỏa thuận với nhau chớ đâu phải dùng chức quyền để trục lợi . . . (?!).

Như đã nói trên, Khánh Bình Tây có gần năm trăm hộ dân với hàng ngàn con người không đất thì cách bờ kinh Cơi Năm chỉ năm trăm mét là sự tồn tại của Nông trường 402 với diện tích 700ha được hoạt động theo hình thức phát canh thu tô suốt mấy chục năm qua. Ngay cả anh Lê Thanh Tiền, chủ tịch xã cũng than với chúng tôi rằng cái ông Nguyễn Thanh Vọng, giám đốc nông trường 402 giống như ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu

Anh Sáu Nam, con trai bác Mười Hô cho chúng tôi biết, anh nhận khóan của nông trường từ hai mươi hai năm nay, mỗi năm từ bốn tới sáu hecta ruộng với giá mỗi năm một công bảy giạ lúa. Nhưng hàng năm, sau khi trừ đi các chi phí thì không năm nào đủ lúa để nộp sản cho nông trường. Nhưng sở dĩ anh sống được là nhờ nuôi vịt, giăng lưới, cắm câu trên ruộng khóan của mình.

Có lẽ cuộc sống của anh Nam còn dễ thở hơn hàng trăm nông dân ở đây, những người được mang một danh nghĩa rất đẹp là nông trường viên, nhưng thực chất, nếu gọi đúng tên thì họ chỉ là những tá điền không hơn không kém. Hơn hai mươi năm không ngóc đầu lên nổi, nhưng bỏ thì biết đi về đâu khi mà họ đã từ tứ phương trôi dạt đến nơi nầy. Thôi thì ở lại, cứ bám đất mà làm với những hy vọng mù tịt nào đó ở tương lai, mặc dù hiện tại căn nhà lá cũng không lành, con cái cứ sinh ra và cứ lớn lên trong đói nghèo dốt nát.

Ai đã từng tham gia kháng chiến, ai đã từng đổ máu xương cho độc lập tự do hẳn sẽ không khỏi xót xa khi cảm nhận ra rằng một thực trang đói nghèo và bị bóc lột như thế lại phát sinh ngay trên vùng đất từng là căn cứ kháng chiến. Và, cũng sẽ không tránh khỏi sự phẩn nộ trước một vị giám đốc nông trường - một ông đầy tớ của nhân dân mà trong mắt của người nông dân ở đây ông lại là ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu - một đại diền chủ miền tây dưới thời Pháp thuộc.

Không ai biết được chính xác số diện tích đất mà ông Vọng canh tác tại nông trường là bao nhiêu, nhưng những người làm mướn cho ông thì ai cũng biết chính xác rằng ông có đến hai mươi công đất gieo mạ, mà mỗi công mạ cấy được mấy chục công đất còn tùy thuộc vào mật độ cấy dầy hay cấy thưa. Bên cạnh việc thâu tóm ruộng đất và độc quyền máy cày, máy suốt của ông Vọng; vợ ông - bà Tuyết Bạc còn là một người cho vay nặng lãi nổi tiếng ở cái xứ nghèo đói bần cùng nầy.

Bác Mười Hô cho biết, trong những lúc thiếu ăn, bác đã từng vay của bà Bạc, cứ mười giạ lúa thì đến mùa trả mười tám giạ, vay một trăm ngàn thì mỗi tháng đóng lãi hai chục ngàn. Cứ thế, bà Bạc trở thành chỗ dựa vững chắc cho những ai thiếu ăn, thiếu mặc ở vùng nầy. Ai có đất, dù là đất thuê của nông trường thì được bà Bạc ưu tiên cho vay lúa, điều kiện cũng thật giản đơn, hễ tới muà, sau khi lúa suốt xong tại bờ đê của nông trường thì phải đong trả trước cho vợ chồng bà các khoảng lúa vay, lúa cày, lúa trục, lúa suốt, còn lại mới đến phần nộp sản cho nông trường. Nếu ai còn dư thì đem về nhà, ai thiếu thì nông trường cho ghi nợ. Nhiều người đã phủi tay, giũ áo ra về, mang theo hai hàng nước mắt sau một năm dầm mưa dải nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Đó là chuyện của những người có ruộng, còn những người không ruộng chuyên sống nghề làm mướn thì sao?

Chị Trần Thị Nguyệt, hai vợ chồng với tám đứa con và mười bốn anh chị em, tính ra đội quân làm thuê của chị có trên sáu chục người mà chổ dựa của cuộc sống hàng ngày là vợ chồng ông Vọng. Khi đói khát, ốm đau, ma chay, cưới hỏi . . . cứ đến bà Bạc ứng trước ngày công bằng gạo hoặc bằng tiền, ứng trước mười ngàn đồng, hoặc hai ký rưởi gạo, hoặc hai bịt xà bông thì đến mùa trả một công cấy, ứng trước hai mươi ngàn đồng thì đến mùa trả một công gặt, biết rằng cái giá ăn trước trả sau chỉ bằng năm mươi phần trăm so với tiền mặt, nhưng trong cảnh nghèo túng tột cùng thì đành phải nhắm mắt xuôi tay đem cái sức lao động của mình ra mà chịu lãi.

Anh Hai Giàu, một thương binh nghèo không có ruộng nhưng cũng không làm mướn, anh tự nhận rằng anh chuyên sống nghề trộm cá của nông trường đã phớt tỉnh nói với chúng tôi: Tôi ăn trộm của nông trường chớ không bao giờ ăn trộm của dân, trộm của nông trường cũng có nghĩa là mình trộm của bọn ác bá, như vậy nó đỡ nhục hơn vác cái mặt đi làm thuê cho vợ chồng thằng Vọng, các anh nghĩ coi, làm giám đốc nông trường gì mà mỗi năm nó thu hàng chục ngàn giạ lúa. Hàng năm, đến mùa giáp hạt, lúa lên giá, sau khi bán lúa xong, vợ chồng nó vét lúa ẩm, lúa mốc dưới đáy bồ đem chà gạo để cho dân vay với cái giá cắt cổ, cứ hai ký rưởi gạo thì đến mùa trả một công cấy, dân đói ở đây quá đông nên nợ nó nhiều, cấy cho nó không hết thì nó điều qua cấy cho nông trường rồi nông trường thanh tóan tiền công lại cho nó, coi như nó kinh doanh luôn cả sức lao động của cái xóm nầy, làm ăn kiểu đó thì không giàu nhanh sao được.

Bác Mười Bòn, một bà mẹ liệt sĩ đã trên bảy mươi tuổi, vừa nhai trầu vừa kể trong nước mắt: Tôi cố cho con Bạc tám công ruộng với giá một trăm giạ lúa, sau đó tôi thuê lại làm, mỗi năm đóng cho nó chín chục giạ, được một năm, tôi chuộc đất lại nhưng còn nợ nó năm giạ, tôi năn nỉ nó cho tôi lấy đất lại để cố cho người khác hai cây vàng, còn năm giạ lúa tôi sẽ trả sau. Nó không cho thiếu mà còn chửi xối xả vào mặt tôi: không có lúa, tôi bỏ bà vô táo tôi gạt! Rồi nó lôi tôi rách banh cái áo. Tôi vừa khóc vừa mang cái áo rách đến mét thằng Vọng, tưởng nó sẽ rầy vợ, ai dè nó vừa cười vừa nói: rách thì về vá lại mà mặc đi bà ơi! Những câu chuyện đau lòng như vậy ở nông trường 402 có thể kể hoài không hết.

Ông Vọng một lần bị ám sát hụt, mang trên người ba bốn nhát dao, một lần bị đánh trong lúc ghé cano lại đổ xăng, từ ấy đến nay ông không bao giờ dám một mình ra xóm. Còn ngôi nhà của cha vợ ông - ông Tám Khánh - thì ban đêm bị những kẻ thù ghét cứ trét cứt đầy trước mặt nhà,ông mua chó tây về nuôi cũng bị người ta thuốc chết. Cho đến một hôm, mẹ vợ ông phát hiện người ta treo cái ổ ong vò vẽ ngay trước cửa thì cả gia đình phải bỏ xứ ra Cà Mau.

Ngày 8 tháng 4 năm 2002, có hơn tám mươi người dân kéo đến nông trường để đòi lại đất, trong đó có trên ba mươi hộ có dơn khiếu nại cho rằng trên diện tích đất của nông trường có phần đất của ông cha họ khẩn hoang thời kháng chiến, đến năm 1964, Khu ủy Khu 9 mượn đất của dân để xây dựng vùng căn cứ, sau năm 1975, nhà nước không trả lại mà cấp cho nông trường. Lúc bấy giờ, do chính sách cải tạo nông nghiệp nên dân không đòi lại. Đến năm 1989, họ nghe Đài phát thanh nói rằng đất nào của dân thì trả lại cho dân nên họ làm đơn đòi lại nhưng không được giải quyết. Năm 1990, một cuộc nổi loạn kéo vào nông trường bao chiếm, hàng chục người bị công an huyện bắt giam, nhiều người tiếp tục làm đơn khiếu nại, các cơ quan chúc năng đã nhiều lần khẳng định rằng họ không có cơ sở pháp lý nào để đòi lại đất. Vậy là, một bên nói có, một bên nói không, cuộc tranh chấp cứ kéo dài.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2002, sau khi đất đã được nông trường cày xong thì bất ngờ 63 hộ dân kéo vào sạ lúa trên diện tích 176ha. Cái lý lẽ để họ bám víu cuối cùng cũng không có gì khác hơn là đất nầy của ông cha họ ngày xưa khai phá. Tỉnh Cà Mau thành lập ngay một ban chỉ đạo để giải quyết vấn đề nầy bao gồm Ban Dân vận Mặt trận, các đoàn thể quần chúng như Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cùng các cơ quan chức năng như Sở Nông nghiệp, Sở địa chính, Sở Lao động . . . do một đồng chí phó Chủ tịch tỉnh làm trưởng đoàn, đặt trụ sở dã chiến tại bờ kinh Cơi Năm để làm việc. Ban đầu, có người cho rằng đây là một vấn đề mang màu sắc chính trị, nhưng sau một quá trình tìm hiểu, có lẽ ai cũng cảm nhận rằng đây là hậu quả của một nguyên nhân sâu xa, là con đẻ của sự đói nghèo, dốt nát, bóc lột, áp bức, bất công trong mối quan hệ giữa nông dân với vợ chồng ông Vọng. Chính từ sự cảm nhận ấy mà các nhà chức trách đã chọn những giải pháp mềm để giải quyết vấn đề. Trước mắt, tổ chức cứu trợ dài hạn cho những hộ thiếu ăn, kể cả những hộ ngoài vùng tranh chấp, những hộ không đất sẽ được cấp đất và hỗ trợ chi phí di dời đến nhận đất ở một lâm trường trong huyện. . . Tiếp theo những giải pháp ấy là sự kiên trì vận động, thuyết phục bà con trả đất cho nông trường. Thế nhưng mọi sự cố gắng dường như không mang lại kết quả. Nhiều người tuyên bố rằng nếu trả đất lại cho nhà nước thì tôi trả, còn nói trả lại cho nông trường thì không bao giờ. Một số hộ thì kiên quyết rằng đất của cha ông tôi thì tôi làm, không trả cho ai hết.

Đến lúc không còn nhân nhượng được, các nhà chức trách nghĩ rằng cần phải bắt giam một số người để làm gương. Trước hết là bắt bốn thanh niên bị tình nghi chặt phá bờ chuối của nông trường với tổng thiệt hại trị giá trên hai triệu đồng. Thế là họ bị khởi tố về tội hủy hoại tài sản. Sáng ngày 17 tháng 9 năm 2002, sau khi một thanh niên bị bắt, ba người còn lại - trong đó có một người đã bị còng một tay - đã đánh trả lại lực lượng công an rồi chạy vào lẫn trốn trong căn nhà của bác Mười Bòn, ngay tức khắc, có trên năm mươi người xung quanh kéo đến làm vòng rào chở che cho họ, chủ yếu là đàn bà và trẻ con. Một cuộc hổn loạn bắt đầu: bên ngòai, các lực lượng công an, bộ đội, dân quân tự vệ với đầy đủ khí giới bao vây thành một vòng tròn với đường kín khoảng một trăm mét. Những người bên trong căn nhà bác Mười Bòn tự vệ bằng nạng giàn thun, súng bắn chuột, gậy gộc, axit, xăng. Họ lập bàn thờ tang trước hàng ba và quấn khăn trắng lên đầu. Các nhà chức trách mắc loa kêu gọi đồng bào giải tán và giao nộp ba tên tội phạm, bên trong cũng phát loa hô đả đảo Nguyễn Thanh Vọng, giám đốc nông trường 402 và kèm theo những lời chửi bới thô tục. Một phóng viên báo chí đến quay phim, bà Nguyệt chịt quần chặn ngang ống kính caméra. Bà con ở các vùng lân cận kéo đến xem đông nghẹt hai bên bờ sông. Cuộc bao vây kéo dài ba ngày hai đêm, trong đó có một đêm mưa suốt.

Sau sự kiện ấy, sáu mươi ba hộ dân với hàng trăm con người đã biến cái xóm nhỏ nhoi nầy thành khu tự trị. Họ nói, ai giết ông Vọng họ sẽ thưởng bốn mươi triệu đồng vì ông Vọng đã ra giá cho một mạng người của họ là mười lăm triệu đồng. Ngày 23 tháng 10 năm 2002, nông trường thuê một chiếc ghe chở tràm giống vào trồng trên vùng đất tranh chấp, lập tức có hơn bốn mươi người kéo đến cướp chiếc ghe kéo lên bờ. Được tin, anh Thông, phó công an xã cùng sáu anh dân quân tự vệ đến lập biên bản. Vừa vào tới, anh Thông bị nhóm người nầy bắt lôi vào nhà, sáu anh dân quân tự vệ bỏ chạy, mấy người nầy dùng gậy gộc và đuốc tẳm xăng khống chế buộc anh Thông phải ghi biên bản theo ý họ, nội dung đại khái là ghe chở tràm giống đâm vào xuồng dân, trong khi đó ông phó giám đốc nông trường ra lệnh cho ghe đâm thẳng vào những người dân trên xuồng cho nên bà con mới giữ ghe lại. Cuối cùng anh Thông phải làm theo lệnh của họ để được ra về.

Chiều hôm ấy, tức là buổi chiều thứ tư chúng tôi ở Khánh Bình Tây, mấy bà lão hỏi chúng tôi chừng nào về, tôi nói sáng mai, một chị phụ nữ ra vẻ dè vặt nói: ngày mai các anh ở lại đi, có nhiều chuyện hay lắm, tha hồ mà chụp hình. Nhìn ánh mắt của chị, tôi linh cảm cho một chuyện không lành nào đó sắp xảy ra, tôi quyết định ở lại và gọi điện về cho hai người bạn đồng nghiệp đi xuống, mang theo ống kính télé 300 để chụp tầm xa khi có sự cố. Thì ra, sáng hôm sau họ mua hai chiếc máy cày về trục đất để sạ tiếp vụ đông xuân. Sáng hôm ấy, để bảo vệ cho hai chiếc máy cày đang chạy, chị Nguyệt bảo mấy đứa con chị đem phảng ra cặm ở đầu bờ, rồi mấy chục người tụ tập trước sân, trong nhà họ đã chuẩn bị sẳn axit, xăng, súng bắn chuột và mã tấu. Anh Song nói nhỏ với tôi: Chuyến nầy coi như chơi tới cùng, trong nhà em đã chuẩn bị hai mươi ký muối bọt và bọc nylon, hễ chết một người là bỏ vào bọc muối lại chở ngay ra Hà Nội.

Rời khỏi Khánh Bình Tây, tôi mang theo hai điều ám ảnh: thứ nhất, mối căm thù của người dân ở đây đối với vợ chồng ông Vọng đã trở thành mối thù giai cấp, đã ăn sâu vào tận tâm can của họ, thế hệ nầy khó mà gở nổi; thứ hai, một cuộc xô sát đang rình rập trong cái xóm nầy, nó nặng nề như ngàn cân treo sợi tóc, ai mà lường được.

Một tuần sau, tôi gọi điện xuống hỏi anh Tiền, chủ tịch xã, anh cũng thể hiện sự lo lắng như tôi: Căng lắm anh ạ, bây giờ thì bà con đang trục đất, không ai ngăn cản thì thôi, nhưng tôi nghe nói sắp tới nông trường sẽ triển khai đồng loạt trồng tràm trên vùng đất tranh chấp, lúc ấy tôi sợ có xô sát xảy ra quá!

Khi tôi đang ngồi viết những dòng nầy thì được tin anh anh Huỳnh Khánh, giám đốc sở Văn hóa thông tin vừa đi Khánh Bình Tây về, tôi gọi điện hỏi tình hình ở dưới ra sao, anh nói một hơi như đã thuộc lòng: Tình hình căng thẳng lắm, tôi vừa gọi điện báo cáo cho đồng chí phó Bí thư tỉnh ủy và kiến nghị bốn giải pháp: thứ nhất, phải thanh tra làm rõ toàn bộ hành vi của ông Vọng để xử lý nghiêm túc bởi chính ông ấy là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là người đã tạo ra cái tai họa nầy; thứ hai, phải ngưng lại kế hoạch trồng tràm trên vùng đất tranh chấp, vì làm như vậy chẳng khác nào đổ dầu vào lửa; thứ ba, xem xét cho dân ở vùng ấy tạm thời được thuê đất của nông trường với mức giá hợp lý; thứ tư, tuyệt đối không được dùng biện pháp mạnh để bắt bớ bà con. Tất nhiên đây là ý kiến của cá nhân tôi, song, dù được chấp nhận hay không chấp nhận thì tôi cũng làm hết trách nhiệm của mình.

Tôi xin lấy ý kiến của anh Huỳnh Khánh để thay cho đoạn kết bài viết nầy. Và, lạy trời cho ý kiến của anh được mọi người chấp thuận./.

Tác giả: Võ Đắc Danh
Trích từ tập bút ký ĐỒNG CỎ CHÁT - NXB TRẺ-NĂM 2008

Nguồn: Trắng Đen, blog Võ Đắc Danh
.
_________

Bình luận của CL&ST:

"Ai đã từng tham gia kháng chiến, ai đã từng đổ máu xương cho độc lập tự do hẳn sẽ không khỏi xót xa khi cảm nhận ra rằng một thực trang đói nghèo và bị bóc lột như thế lại phát sinh ngay trên vùng đất từng là căn cứ kháng chiến. Và, cũng sẽ không tránh khỏi sự phẩn nộ trước một vị giám đốc nông trường - một ông đầy tớ của nhân dân mà trong mắt của người nông dân ở đây ông lại là ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu - một đại diền chủ miền tây dưới thời Pháp thuộc.". Những người như tác giả bài báo và người có lương tâm hẳn sẽ "không khỏi xót xa", nhưng có những kẻ được gọi là "chính quyền" thì không xót xa vì họ đã mưu toan đàn áp nông dân để bênh vực cho vợ chồng "đại điền chủ XHCN-Đảng viên Đảng CSVN Nguyễn Thanh Vọng". Với những nông dân ở khu căn cứ kháng chiến thì ngoài nỗi đau bị mất tài sản, bị bóc lột, thì họ còn có một nỗi đau lớn hơn: Nỗi đau từ sự phản bội niềm tin mà ngày xưa họ đã tin tưởng, nuôi nấng, che giấu, đem cả mạng sống của mình và gia đình mình ra bảo vệ, để hy vọng vào một tương lai "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", nhờ có họ mà cái lực lượng ấy có cơ hội tồn tại, để rồi ngày nay họ bị chính cái lực lượng ấy đàn áp vì bảo vệ cho những "đại điền chủ XHCN" được tiếp tục bóc lột nông dân.

Tài sản của cha ông mình cho người khác "mượn" và bị "quịt nợ" luôn, nay con cháu muốn đòi lại thì được một người có phần "tử tế nhất trong những kẻ phản bội" đề nghị cho họ thuê lại tài sản của chính họ với "giá hợp lý", chuyện như vậy trên thế giới này "chỉ có ở Việt Nam". Vậy mà cái đề nghị "có phần tử tế" của con người "có phần tử tế" kia cũng là để "cầu may" chớ không biết số phận những nông dân Khánh Bình Tây kia giờ đã thế nào rồi?

##########

Cùng chủ đề:

- Dân không quan trọng bằng chó?
- Đời sống nông dân miền Nam trong mắt nhà báo Võ Đắc Danh
- Đất nước và nhân dân trong mắt nhà văn Đào Hiếu
.