05/02/2009

PHIM ĐƯỢC CÔNG BỐ SAU 27 NĂM KHÓA KÍN TRONG KÉT

.
Phim đang phổ biến trên mạng tên "Vietnam! Vietnam" được cho là cuốn phim cuối cùng của nhà đạo diễn gạo cội hàng đầu của Hoa Kỳ John Ford (1894-1973), ông đoạt tất thảy 4 giải Oscars vào năm 1973 ông nhận giải AFI Life Achievement Award cùng năm Ford was awarded the Presidential Medal of Freedom by President Richard Nixon). Phim bắt đầu quay vài tháng sau cuộc tổng công kích Mậu Thân (1968) và cho đến khi cuộn phim được hoàn tất vào cuối năm 1971.

Vào lúc đó luật pháp liên bang của Hoa Kỳ ngăn cấm chuyện trình chiếu bất cứ một phim ảnh nào do Cơ quan Truyền Thông Hoa Kỳ (United States Information Agency), trong đó có phim "Việt Nam! Việt Nam!" Cho nên phim tài liệu cuối cùng của ông John Ford đã được khóa kín trong két sắt 27 năm trời cho đến khi luật pháp được thay đổi cho phép phim được chiếu cho công chúng xem.

Tớ không rành tiếng Anh nên không biết phim nói cái gì, và cũng mới xem có vài phút đầu phim, chưa có thời gian xem hết phim. Tớ post lên đây cho mọi người cùng xem để tham khảo, nếu bạn nào xem xong và hiểu nội dung thì vui lòng kể lại nhé!

Tạ Phong Tần



VietnamVietnam by John Ford from hoanggiangthanh on Vimeo.

04/02/2009

NÔNG DÂN VÀ ĐẤT

.
Xoay quanh cuộc tranh luận về bút ký LONG ĐONG ĐỜI CỐ NÔNG, tôi thật sự cảm động khi đọc được trong tận cùng thâm tâm của các bạn một sự đồng cảm sâu xa với thân phận người nông dân - một bộ phận chiếm tỷ lệ cao nhất trên đất nước chúng ta. Ở mỗi ý kiến của các bạn cho thấy một trình độ, một tri thức, một vị trí xã hội khác nhau, có bạn đang sống và làm việc ở nước ngoài . . . nhưng tất cả có cùng một cái tâm, một cái nhìn đầy nghiêm túc. Tôi, với tư cách là người kể chuyện, xin kể tiếp câu chuyện về nông dân trong một bối cảnh khác với hy vọng làm phong phú thêm những thông tin mà các bạn đang thiếu, đang cần.


* * *
Buổi sáng ngồi uống café, nghe mấy anh ở Cà Mau bàn tán về chuyện Khánh Bình Tây dạo nầy căng thẳng lắm, vừa qua có một chuyện bắt bớ xảy ra, một số chị em phụ nữ phản ứng bằng cách xé toạc áo quần rồi hô tóan lên nói hiếp dâm, làm cho chính quyền phải bất lực. Làm báo mà nghe những chuyện như thế ai nỡ ngồi nhà, vậy là tôi xách xe ra đi. Cũng may, vừa qua chợ thì gặp anh Đào Văn, phóng viên báo ảnh Đất Mũi đang chuẩn bị về quê, tôi bảo: Mầy bỏ chiếc xe tùa hia của mầy lại đi, lên xe đi với tao, hai thằng đi một chiếc cho vui.

Thật không có gì may mắn hơn khi đi công tác vùng sâu vùng xa mà lại có bạn đồng hành, hơn nữa lại là bạn đồng nghiệp. Đào Văn làm báo chỉ mới ba năm, cái mặt còn hôi sữa nhưng đã sớm khẳn định tay nghề, ngòai việc chiếm lĩnh diễn đàn ở báo ảnh Đất Mũi, anh cộng tác thường xuyên với báo Tuổi Trẻ, Người Lao Động, Văn Hóa, Nông Nghiệp Việt Nam . . . nhờ vậy mà nhuận bút của anh chẳng những đủ nuôi thân mà còn nuôi một thằng em ăn học và giúp đỡ gia đình. Nhà anh nghèo, cha anh - chú Hai Hôn - lại mắc một chứng bệnh ngặt nghèo - bệnh ung thư gan - đang nằm chờ chết. Ở chốn đô thị phồn hoa với cái tuổi 22, cuộc sống đủ trò cám dỗ nhưng Đào Văn lại sống rất nghiêm túc để làm việc và phải tính tóan chi li, nhiều lúc anh tâm sự với tôi rằng mỗi tháng anh cần tối thiểu bao nhiêu tiền để trả tiền thuê nhà trọ, tiền ăn, đóng bảo hiểm, trả góp chiếc xe, gởi về cho mẹ . . . Bây giờ thì tôi mới thấu hiểu những nổi niềm tâm sự ấy khi bước vào nhà anh, một căn nhà lá ọp ẹp nằm bên bờ kinh Cơi Năm xã Khánh Bình Tây. Cha anh đang nằm liệt giường, mẹ anh ngày ngày tần tảo, bà khoe với tôi rằng cái nhà tắm xây dựng cơ bản và cái tivi nghĩa địa là tiền hai giải báo chí hôm trước của Đào Văn, nếu không thì cả đời bà cũng không dám mơ tới, nhà chỉ có năm công ruộng nhưng đã cố cho người ta một lượng vàng để chạy chửa cho ông, đất đã cố rồi, nhưng để có gạo ăn, bà phải thuê lại với giá mỗi công một năm mười giạ lúa. Tôi hỏi:

- Đất vườn mình còn rộng, lại nhiều ao sao thiếm không chăn nuôi, trồng trọt để có thêm mà xoay sở?

- Ở đây hở cái gì là bọn trộm lấy cái nấy, có ai dám trồng trọt chăn nuôi gì đâu, cách đây hai tháng, chúng rinh của tôi hết ba con heo, mới đêm qua, chúng cạy cửa vào nhà lấy hết sáu bao lúa. Tôi hỏi chính quyền có biết chuyện ấy không, thiếm lại nói:

- Biết để làm gì, tới xuồng máy của chủ tịch xã mà còn bị trộm thì có của ai mà chúng từ, đành chịu! Đi đến đâu trong cái xóm nầy cũng nghe bà con óan than vì nạn trộm. Có lẽ, trộm cắp ở đây đã thành một thứ nghề để mưu sinh sau cái nghề làm mướn. Khánh Bình Tây có 2.600 hộ dân thì đã có hơn bốn mươi phần trăm sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần năm trăm hộ dân không đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi nầy không biết phải làm gì để sống. Làm mướn ư ? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường mót lúa, giũ rơm thì bị cán bộ nông trường đốt thúng, đốt rơm. Mùa mưa, họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau thì bị đuổi xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương bởi dưới mắt của cán bộ nông trường, họ là những phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán thì bị các anh bảo vệ nguồi lợi thủy sản vây bắt vì cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên. Vậy là số phận của hàng ngàn con người ấy trở thành cái kiếp người cơm vải cơm rơi, biết đâu nẽo đất đường trời mà đi. Vậy thì đi ăn trộm!

Tình cờ, chúng tôi ghé nhà bác Mười Hô, một gia đình cố cựu ở đây, ông từng là chánh án tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, rồi về đây làm bí thư xã ba năm. Năm nay ông đã 75 tuổi, con cháu đầy đàn không đếm hết nhưng đất ruộng thì chỉ có mười công, và mọi chi phí cho mấy chục con người chỉ đè lên mười công ruộng. Bác Mười gái năm nay đã 73 tuổi mà vẫn còn phải đi cấy mướn. Bác nói:

- Còn sức ngày nào thì phải làm ngày nấy, không làm lấy gì sống, mười công đất của tôi tuy đang làm nhưng đã cố cho người ta để lấy hai cây rưởi vàng mà xoay sở, người ta cho tôi thuê lại mỗi năm một trăm giạ lúa. Đã vậy, năm ngóai thằng con trai thứ sáu của tôi nhận khoán của nông trường một con kinh để bắt cá với giá ba mươi sáu triệu đồng, cuối cùng chỉ thu được hai mười triệu, lỗ mười sáu triệu, nó phải lấy giấy chủ quyền đất thế chấp cho ngân hàng huyện vay mười sáu triệu đồng để trả cho người ta. Coi như miếng đất của tôi đang nằm dưới hai đống nợ. Cuối cùng chắc cũng phải bán đất thôi chớ lấy gì trả. Chúng tôi thử làm một cuộc thăm dò tại Cơi Năm, đại bộ phập nông dân có đất ở đây cũng đã cầm cố cho người khác rồi thuê lại làm với giá mỗi công một năm mười giạ lúa. Nguyên nhân thật đơn giản, đơn giản như chính cái cảnh đời của họ: ruộng đất thì có hạn mà con cái thì mỗi ngày một đông trong khi tất cả chi phí gia đình chỉ dựa vào hạt lúa, chỉ cần một người bệnh là cố đất. Chỉ có điều làm tôi thắc mắc là người đầu tư cho việc kinh doanh đất đai nầy lại là ba ông bí thư chi bộ, trưởng ban nhân dân và trưởng công an ấp, mỗi ông nắm trong tay hàng trăm công rồi cho những khổ chủ ấy thuê lại mỗi năm thu hàng ngàn giạ lúa. Khi lãi mẹ đẽ lãi con, chủ đất buộc lòng phải sang bán thì các ông cũng chính là người mua lại, như ông Bảy Châu, nguyên là bí thư chi bộ ấp nầy, khởi nghiệp của gia đình ông chỉ có bảy công ruộng, nhưng kết quả của một quá trình kinh doanh cầm cố, số ruộng của ông bây giờ có cả trăm công. Tôi hỏi anh Sáu Trung, bí thư xã rằng anh có biết việc nầy không, anh ngập ngừng nói:

- Chuyện ấy thì có, nhưng họ thỏa thuận với nhau chớ đâu phải dùng chức quyền để trục lợi . . . (?!).

Như đã nói trên, Khánh Bình Tây có gần năm trăm hộ dân với hàng ngàn con người không đất thì cách bờ kinh Cơi Năm chỉ năm trăm mét là sự tồn tại của Nông trường 402 với diện tích 700ha được hoạt động theo hình thức phát canh thu tô suốt mấy chục năm qua. Ngay cả anh Lê Thanh Tiền, chủ tịch xã cũng than với chúng tôi rằng cái ông Nguyễn Thanh Vọng, giám đốc nông trường 402 giống như ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu

Anh Sáu Nam, con trai bác Mười Hô cho chúng tôi biết, anh nhận khóan của nông trường từ hai mươi hai năm nay, mỗi năm từ bốn tới sáu hecta ruộng với giá mỗi năm một công bảy giạ lúa. Nhưng hàng năm, sau khi trừ đi các chi phí thì không năm nào đủ lúa để nộp sản cho nông trường. Nhưng sở dĩ anh sống được là nhờ nuôi vịt, giăng lưới, cắm câu trên ruộng khóan của mình.

Có lẽ cuộc sống của anh Nam còn dễ thở hơn hàng trăm nông dân ở đây, những người được mang một danh nghĩa rất đẹp là nông trường viên, nhưng thực chất, nếu gọi đúng tên thì họ chỉ là những tá điền không hơn không kém. Hơn hai mươi năm không ngóc đầu lên nổi, nhưng bỏ thì biết đi về đâu khi mà họ đã từ tứ phương trôi dạt đến nơi nầy. Thôi thì ở lại, cứ bám đất mà làm với những hy vọng mù tịt nào đó ở tương lai, mặc dù hiện tại căn nhà lá cũng không lành, con cái cứ sinh ra và cứ lớn lên trong đói nghèo dốt nát.

Ai đã từng tham gia kháng chiến, ai đã từng đổ máu xương cho độc lập tự do hẳn sẽ không khỏi xót xa khi cảm nhận ra rằng một thực trang đói nghèo và bị bóc lột như thế lại phát sinh ngay trên vùng đất từng là căn cứ kháng chiến. Và, cũng sẽ không tránh khỏi sự phẩn nộ trước một vị giám đốc nông trường - một ông đầy tớ của nhân dân mà trong mắt của người nông dân ở đây ông lại là ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu - một đại diền chủ miền tây dưới thời Pháp thuộc.

Không ai biết được chính xác số diện tích đất mà ông Vọng canh tác tại nông trường là bao nhiêu, nhưng những người làm mướn cho ông thì ai cũng biết chính xác rằng ông có đến hai mươi công đất gieo mạ, mà mỗi công mạ cấy được mấy chục công đất còn tùy thuộc vào mật độ cấy dầy hay cấy thưa. Bên cạnh việc thâu tóm ruộng đất và độc quyền máy cày, máy suốt của ông Vọng; vợ ông - bà Tuyết Bạc còn là một người cho vay nặng lãi nổi tiếng ở cái xứ nghèo đói bần cùng nầy.

Bác Mười Hô cho biết, trong những lúc thiếu ăn, bác đã từng vay của bà Bạc, cứ mười giạ lúa thì đến mùa trả mười tám giạ, vay một trăm ngàn thì mỗi tháng đóng lãi hai chục ngàn. Cứ thế, bà Bạc trở thành chỗ dựa vững chắc cho những ai thiếu ăn, thiếu mặc ở vùng nầy. Ai có đất, dù là đất thuê của nông trường thì được bà Bạc ưu tiên cho vay lúa, điều kiện cũng thật giản đơn, hễ tới muà, sau khi lúa suốt xong tại bờ đê của nông trường thì phải đong trả trước cho vợ chồng bà các khoảng lúa vay, lúa cày, lúa trục, lúa suốt, còn lại mới đến phần nộp sản cho nông trường. Nếu ai còn dư thì đem về nhà, ai thiếu thì nông trường cho ghi nợ. Nhiều người đã phủi tay, giũ áo ra về, mang theo hai hàng nước mắt sau một năm dầm mưa dải nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Đó là chuyện của những người có ruộng, còn những người không ruộng chuyên sống nghề làm mướn thì sao?

Chị Trần Thị Nguyệt, hai vợ chồng với tám đứa con và mười bốn anh chị em, tính ra đội quân làm thuê của chị có trên sáu chục người mà chổ dựa của cuộc sống hàng ngày là vợ chồng ông Vọng. Khi đói khát, ốm đau, ma chay, cưới hỏi . . . cứ đến bà Bạc ứng trước ngày công bằng gạo hoặc bằng tiền, ứng trước mười ngàn đồng, hoặc hai ký rưởi gạo, hoặc hai bịt xà bông thì đến mùa trả một công cấy, ứng trước hai mươi ngàn đồng thì đến mùa trả một công gặt, biết rằng cái giá ăn trước trả sau chỉ bằng năm mươi phần trăm so với tiền mặt, nhưng trong cảnh nghèo túng tột cùng thì đành phải nhắm mắt xuôi tay đem cái sức lao động của mình ra mà chịu lãi.

Anh Hai Giàu, một thương binh nghèo không có ruộng nhưng cũng không làm mướn, anh tự nhận rằng anh chuyên sống nghề trộm cá của nông trường đã phớt tỉnh nói với chúng tôi: Tôi ăn trộm của nông trường chớ không bao giờ ăn trộm của dân, trộm của nông trường cũng có nghĩa là mình trộm của bọn ác bá, như vậy nó đỡ nhục hơn vác cái mặt đi làm thuê cho vợ chồng thằng Vọng, các anh nghĩ coi, làm giám đốc nông trường gì mà mỗi năm nó thu hàng chục ngàn giạ lúa. Hàng năm, đến mùa giáp hạt, lúa lên giá, sau khi bán lúa xong, vợ chồng nó vét lúa ẩm, lúa mốc dưới đáy bồ đem chà gạo để cho dân vay với cái giá cắt cổ, cứ hai ký rưởi gạo thì đến mùa trả một công cấy, dân đói ở đây quá đông nên nợ nó nhiều, cấy cho nó không hết thì nó điều qua cấy cho nông trường rồi nông trường thanh tóan tiền công lại cho nó, coi như nó kinh doanh luôn cả sức lao động của cái xóm nầy, làm ăn kiểu đó thì không giàu nhanh sao được.

Bác Mười Bòn, một bà mẹ liệt sĩ đã trên bảy mươi tuổi, vừa nhai trầu vừa kể trong nước mắt: Tôi cố cho con Bạc tám công ruộng với giá một trăm giạ lúa, sau đó tôi thuê lại làm, mỗi năm đóng cho nó chín chục giạ, được một năm, tôi chuộc đất lại nhưng còn nợ nó năm giạ, tôi năn nỉ nó cho tôi lấy đất lại để cố cho người khác hai cây vàng, còn năm giạ lúa tôi sẽ trả sau. Nó không cho thiếu mà còn chửi xối xả vào mặt tôi: không có lúa, tôi bỏ bà vô táo tôi gạt! Rồi nó lôi tôi rách banh cái áo. Tôi vừa khóc vừa mang cái áo rách đến mét thằng Vọng, tưởng nó sẽ rầy vợ, ai dè nó vừa cười vừa nói: rách thì về vá lại mà mặc đi bà ơi! Những câu chuyện đau lòng như vậy ở nông trường 402 có thể kể hoài không hết.

Ông Vọng một lần bị ám sát hụt, mang trên người ba bốn nhát dao, một lần bị đánh trong lúc ghé cano lại đổ xăng, từ ấy đến nay ông không bao giờ dám một mình ra xóm. Còn ngôi nhà của cha vợ ông - ông Tám Khánh - thì ban đêm bị những kẻ thù ghét cứ trét cứt đầy trước mặt nhà,ông mua chó tây về nuôi cũng bị người ta thuốc chết. Cho đến một hôm, mẹ vợ ông phát hiện người ta treo cái ổ ong vò vẽ ngay trước cửa thì cả gia đình phải bỏ xứ ra Cà Mau.

Ngày 8 tháng 4 năm 2002, có hơn tám mươi người dân kéo đến nông trường để đòi lại đất, trong đó có trên ba mươi hộ có dơn khiếu nại cho rằng trên diện tích đất của nông trường có phần đất của ông cha họ khẩn hoang thời kháng chiến, đến năm 1964, Khu ủy Khu 9 mượn đất của dân để xây dựng vùng căn cứ, sau năm 1975, nhà nước không trả lại mà cấp cho nông trường. Lúc bấy giờ, do chính sách cải tạo nông nghiệp nên dân không đòi lại. Đến năm 1989, họ nghe Đài phát thanh nói rằng đất nào của dân thì trả lại cho dân nên họ làm đơn đòi lại nhưng không được giải quyết. Năm 1990, một cuộc nổi loạn kéo vào nông trường bao chiếm, hàng chục người bị công an huyện bắt giam, nhiều người tiếp tục làm đơn khiếu nại, các cơ quan chúc năng đã nhiều lần khẳng định rằng họ không có cơ sở pháp lý nào để đòi lại đất. Vậy là, một bên nói có, một bên nói không, cuộc tranh chấp cứ kéo dài.

Đến ngày 9 tháng 6 năm 2002, sau khi đất đã được nông trường cày xong thì bất ngờ 63 hộ dân kéo vào sạ lúa trên diện tích 176ha. Cái lý lẽ để họ bám víu cuối cùng cũng không có gì khác hơn là đất nầy của ông cha họ ngày xưa khai phá. Tỉnh Cà Mau thành lập ngay một ban chỉ đạo để giải quyết vấn đề nầy bao gồm Ban Dân vận Mặt trận, các đoàn thể quần chúng như Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ cùng các cơ quan chức năng như Sở Nông nghiệp, Sở địa chính, Sở Lao động . . . do một đồng chí phó Chủ tịch tỉnh làm trưởng đoàn, đặt trụ sở dã chiến tại bờ kinh Cơi Năm để làm việc. Ban đầu, có người cho rằng đây là một vấn đề mang màu sắc chính trị, nhưng sau một quá trình tìm hiểu, có lẽ ai cũng cảm nhận rằng đây là hậu quả của một nguyên nhân sâu xa, là con đẻ của sự đói nghèo, dốt nát, bóc lột, áp bức, bất công trong mối quan hệ giữa nông dân với vợ chồng ông Vọng. Chính từ sự cảm nhận ấy mà các nhà chức trách đã chọn những giải pháp mềm để giải quyết vấn đề. Trước mắt, tổ chức cứu trợ dài hạn cho những hộ thiếu ăn, kể cả những hộ ngoài vùng tranh chấp, những hộ không đất sẽ được cấp đất và hỗ trợ chi phí di dời đến nhận đất ở một lâm trường trong huyện. . . Tiếp theo những giải pháp ấy là sự kiên trì vận động, thuyết phục bà con trả đất cho nông trường. Thế nhưng mọi sự cố gắng dường như không mang lại kết quả. Nhiều người tuyên bố rằng nếu trả đất lại cho nhà nước thì tôi trả, còn nói trả lại cho nông trường thì không bao giờ. Một số hộ thì kiên quyết rằng đất của cha ông tôi thì tôi làm, không trả cho ai hết.

Đến lúc không còn nhân nhượng được, các nhà chức trách nghĩ rằng cần phải bắt giam một số người để làm gương. Trước hết là bắt bốn thanh niên bị tình nghi chặt phá bờ chuối của nông trường với tổng thiệt hại trị giá trên hai triệu đồng. Thế là họ bị khởi tố về tội hủy hoại tài sản. Sáng ngày 17 tháng 9 năm 2002, sau khi một thanh niên bị bắt, ba người còn lại - trong đó có một người đã bị còng một tay - đã đánh trả lại lực lượng công an rồi chạy vào lẫn trốn trong căn nhà của bác Mười Bòn, ngay tức khắc, có trên năm mươi người xung quanh kéo đến làm vòng rào chở che cho họ, chủ yếu là đàn bà và trẻ con. Một cuộc hổn loạn bắt đầu: bên ngòai, các lực lượng công an, bộ đội, dân quân tự vệ với đầy đủ khí giới bao vây thành một vòng tròn với đường kín khoảng một trăm mét. Những người bên trong căn nhà bác Mười Bòn tự vệ bằng nạng giàn thun, súng bắn chuột, gậy gộc, axit, xăng. Họ lập bàn thờ tang trước hàng ba và quấn khăn trắng lên đầu. Các nhà chức trách mắc loa kêu gọi đồng bào giải tán và giao nộp ba tên tội phạm, bên trong cũng phát loa hô đả đảo Nguyễn Thanh Vọng, giám đốc nông trường 402 và kèm theo những lời chửi bới thô tục. Một phóng viên báo chí đến quay phim, bà Nguyệt chịt quần chặn ngang ống kính caméra. Bà con ở các vùng lân cận kéo đến xem đông nghẹt hai bên bờ sông. Cuộc bao vây kéo dài ba ngày hai đêm, trong đó có một đêm mưa suốt.

Sau sự kiện ấy, sáu mươi ba hộ dân với hàng trăm con người đã biến cái xóm nhỏ nhoi nầy thành khu tự trị. Họ nói, ai giết ông Vọng họ sẽ thưởng bốn mươi triệu đồng vì ông Vọng đã ra giá cho một mạng người của họ là mười lăm triệu đồng. Ngày 23 tháng 10 năm 2002, nông trường thuê một chiếc ghe chở tràm giống vào trồng trên vùng đất tranh chấp, lập tức có hơn bốn mươi người kéo đến cướp chiếc ghe kéo lên bờ. Được tin, anh Thông, phó công an xã cùng sáu anh dân quân tự vệ đến lập biên bản. Vừa vào tới, anh Thông bị nhóm người nầy bắt lôi vào nhà, sáu anh dân quân tự vệ bỏ chạy, mấy người nầy dùng gậy gộc và đuốc tẳm xăng khống chế buộc anh Thông phải ghi biên bản theo ý họ, nội dung đại khái là ghe chở tràm giống đâm vào xuồng dân, trong khi đó ông phó giám đốc nông trường ra lệnh cho ghe đâm thẳng vào những người dân trên xuồng cho nên bà con mới giữ ghe lại. Cuối cùng anh Thông phải làm theo lệnh của họ để được ra về.

Chiều hôm ấy, tức là buổi chiều thứ tư chúng tôi ở Khánh Bình Tây, mấy bà lão hỏi chúng tôi chừng nào về, tôi nói sáng mai, một chị phụ nữ ra vẻ dè vặt nói: ngày mai các anh ở lại đi, có nhiều chuyện hay lắm, tha hồ mà chụp hình. Nhìn ánh mắt của chị, tôi linh cảm cho một chuyện không lành nào đó sắp xảy ra, tôi quyết định ở lại và gọi điện về cho hai người bạn đồng nghiệp đi xuống, mang theo ống kính télé 300 để chụp tầm xa khi có sự cố. Thì ra, sáng hôm sau họ mua hai chiếc máy cày về trục đất để sạ tiếp vụ đông xuân. Sáng hôm ấy, để bảo vệ cho hai chiếc máy cày đang chạy, chị Nguyệt bảo mấy đứa con chị đem phảng ra cặm ở đầu bờ, rồi mấy chục người tụ tập trước sân, trong nhà họ đã chuẩn bị sẳn axit, xăng, súng bắn chuột và mã tấu. Anh Song nói nhỏ với tôi: Chuyến nầy coi như chơi tới cùng, trong nhà em đã chuẩn bị hai mươi ký muối bọt và bọc nylon, hễ chết một người là bỏ vào bọc muối lại chở ngay ra Hà Nội.

Rời khỏi Khánh Bình Tây, tôi mang theo hai điều ám ảnh: thứ nhất, mối căm thù của người dân ở đây đối với vợ chồng ông Vọng đã trở thành mối thù giai cấp, đã ăn sâu vào tận tâm can của họ, thế hệ nầy khó mà gở nổi; thứ hai, một cuộc xô sát đang rình rập trong cái xóm nầy, nó nặng nề như ngàn cân treo sợi tóc, ai mà lường được.

Một tuần sau, tôi gọi điện xuống hỏi anh Tiền, chủ tịch xã, anh cũng thể hiện sự lo lắng như tôi: Căng lắm anh ạ, bây giờ thì bà con đang trục đất, không ai ngăn cản thì thôi, nhưng tôi nghe nói sắp tới nông trường sẽ triển khai đồng loạt trồng tràm trên vùng đất tranh chấp, lúc ấy tôi sợ có xô sát xảy ra quá!

Khi tôi đang ngồi viết những dòng nầy thì được tin anh anh Huỳnh Khánh, giám đốc sở Văn hóa thông tin vừa đi Khánh Bình Tây về, tôi gọi điện hỏi tình hình ở dưới ra sao, anh nói một hơi như đã thuộc lòng: Tình hình căng thẳng lắm, tôi vừa gọi điện báo cáo cho đồng chí phó Bí thư tỉnh ủy và kiến nghị bốn giải pháp: thứ nhất, phải thanh tra làm rõ toàn bộ hành vi của ông Vọng để xử lý nghiêm túc bởi chính ông ấy là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là người đã tạo ra cái tai họa nầy; thứ hai, phải ngưng lại kế hoạch trồng tràm trên vùng đất tranh chấp, vì làm như vậy chẳng khác nào đổ dầu vào lửa; thứ ba, xem xét cho dân ở vùng ấy tạm thời được thuê đất của nông trường với mức giá hợp lý; thứ tư, tuyệt đối không được dùng biện pháp mạnh để bắt bớ bà con. Tất nhiên đây là ý kiến của cá nhân tôi, song, dù được chấp nhận hay không chấp nhận thì tôi cũng làm hết trách nhiệm của mình.

Tôi xin lấy ý kiến của anh Huỳnh Khánh để thay cho đoạn kết bài viết nầy. Và, lạy trời cho ý kiến của anh được mọi người chấp thuận./.

Tác giả: Võ Đắc Danh
Trích từ tập bút ký ĐỒNG CỎ CHÁT - NXB TRẺ-NĂM 2008

Nguồn: Trắng Đen, blog Võ Đắc Danh
.
_________

Bình luận của CL&ST:

"Ai đã từng tham gia kháng chiến, ai đã từng đổ máu xương cho độc lập tự do hẳn sẽ không khỏi xót xa khi cảm nhận ra rằng một thực trang đói nghèo và bị bóc lột như thế lại phát sinh ngay trên vùng đất từng là căn cứ kháng chiến. Và, cũng sẽ không tránh khỏi sự phẩn nộ trước một vị giám đốc nông trường - một ông đầy tớ của nhân dân mà trong mắt của người nông dân ở đây ông lại là ông Hội đồng Dư trong vở cải lương Tiếng hò sông Hậu - một đại diền chủ miền tây dưới thời Pháp thuộc.". Những người như tác giả bài báo và người có lương tâm hẳn sẽ "không khỏi xót xa", nhưng có những kẻ được gọi là "chính quyền" thì không xót xa vì họ đã mưu toan đàn áp nông dân để bênh vực cho vợ chồng "đại điền chủ XHCN-Đảng viên Đảng CSVN Nguyễn Thanh Vọng". Với những nông dân ở khu căn cứ kháng chiến thì ngoài nỗi đau bị mất tài sản, bị bóc lột, thì họ còn có một nỗi đau lớn hơn: Nỗi đau từ sự phản bội niềm tin mà ngày xưa họ đã tin tưởng, nuôi nấng, che giấu, đem cả mạng sống của mình và gia đình mình ra bảo vệ, để hy vọng vào một tương lai "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", nhờ có họ mà cái lực lượng ấy có cơ hội tồn tại, để rồi ngày nay họ bị chính cái lực lượng ấy đàn áp vì bảo vệ cho những "đại điền chủ XHCN" được tiếp tục bóc lột nông dân.

Tài sản của cha ông mình cho người khác "mượn" và bị "quịt nợ" luôn, nay con cháu muốn đòi lại thì được một người có phần "tử tế nhất trong những kẻ phản bội" đề nghị cho họ thuê lại tài sản của chính họ với "giá hợp lý", chuyện như vậy trên thế giới này "chỉ có ở Việt Nam". Vậy mà cái đề nghị "có phần tử tế" của con người "có phần tử tế" kia cũng là để "cầu may" chớ không biết số phận những nông dân Khánh Bình Tây kia giờ đã thế nào rồi?

##########

Cùng chủ đề:

- Dân không quan trọng bằng chó?
- Đời sống nông dân miền Nam trong mắt nhà báo Võ Đắc Danh
- Đất nước và nhân dân trong mắt nhà văn Đào Hiếu
.

03/02/2009

VỪA KHAI TRƯƠNG ĐÃ CÓ "KHÁCH HÀNG TIỀM NĂNG"

.
Hàng đứng: Tớ và Anhbasg
Hàng ngồi: Chị Dương Thị Tân và bác Gs Trần Khuê


Hôm qua, Văn phòng Luật sư PHÁP QUYỀN tổ chức Tân Niên khai trương sau hơn chục ngày nghỉ Tết Kỷ Sửu (Công nhận nghỉ, ngủ, ăn, chơi hơi lâu ngày giờ làm việc lại cảm thấy làm biếng thiệt).

Khách mời của Văn phòng đều là anh em bạn hữu quen biết từ lâu như:

- Các Blogger thuộc nhóm CLB Nhà Báo Tự Do gồm Uyên Vũ, TrangĐem, Đông A SG, Anhbasg, Huỳnh Công Thuận;

- Khách mời "đặc biệt" có: Nhà thơi Bùi Chát - Giám đốc Nhà Xuất Bản Giấy Vụn, 2 dân oan đến từ Lâm Đồng;

- Khách mời "đặc biệt nhiều hơn nữa" có: Bác Gs Trần Khuê, anh Phương Nam Đỗ Nam Hải; chị Dương Thị Tân (vợ cũ Blogger Điếu Cày).

Sở dĩ tớ phải gọi là "đặc biệt" vì như lời chị Tân nói đùa rằng: "Đây là những "khách hàng tiềm năng" của Luật sư Luật""Bữa tiệc thân mật hôm nay của anh Luật là sự đầu tư đúng hướng"; còn những "khách hàng tiềm năng" được tớ xếp vào hạng "đặc biệt nhiều hơn nữa" do bác Khuê, anh Hải và chị Tân thời gian qua đều là "nhân vật nổi tiếng" trên mạng Internet cả.

Nhân dịp này, chị Tân thay mặt anh Điếu Cày đọc "Lời chúc Tết từ ngục tối" tặng anh em:

"Nhân dịp Năm mới Kỷ Sửu, ông Điếu Cày chân thành chúc cho Dân tộc Việt Nam sẽ có một tương lai tốt đẹp, tươi sáng. Chúc phong trào Dân Chủ của Việt Nam vững vàng tiến bước. Chúc tất cả các anh chị em giữ ngọn lửa yêu nước nồng nàn.Chúc tất cả các anh chị em trong Câu lạc bộ Nhà báo Tự do và các blogger luôn giữ ngòi bút ngay thẳng trong sáng , giữ khí tiết và lòng can trường trước mọi hoàn cảnh...".

Đương nhiên, ngoài việc chúc Tết, mọi người còn trao đổi với nhau các câu chuyện khác, nhưng đó là chuyện gì thì tớ không kể, để cho có kẻ tò mò muốn biết nhưng không được biết tức... ké chơi!

Photobucket
Bác Khuê đang kể chuyện

Photobucket
Ở ngoài nhìn vào

Photobucket
Hàng bên phải

Tạ Phong Tần

31/01/2009

VỤ PHÁT HIỆN MANG LỰU ĐẠN LÊN MÁY BAY: AI VI PHẠM?

.
Hình bên là cô Trần Thị Lệ Duyên (23 tuổi, trú tại 17 Lê Vĩnh Huy, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng).

Bức ảnh cho thấy cô Duyên khi làm việc với lực lượng An ninh sân bay cô đã khóc, khóe mắt sưng, gương mặt vẫn còn nét mếu máo, mắt mũi đều đỏ ké, chứng tỏ cô Duyên đang trong tình trạng lo lắng, sợ hãi khi cô bị phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật. Hình ảnh này phù hợp với nội dung các tờ báo loan tải trong ngày 29/1/2009 và 30/1/2009 là cô Duyên bị An ninh phát hiện mang theo quả lựu đạn khi lực lượng này soi chiếu hành lý của cô khi cô chuẩn bị lên máy bay .

Theo báo Tiền Phong ngày 29/1/2009 thì: "Khoảng 8 giờ ngày 29-1 an ninh sân bay Pleiku (Gia Lai) phát hiện một quả lựu đạn trong túi xách của hành khách Trần Thị Lệ Duyên (23 tuổi) trú tại Quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng khi chị Duyên làm thủ tục ra sân bay trên chuyến bay VN 343 từ Gia Lai về Đà Nẵng.";

Photobucket

Báo Tuổi Trẻ ngày 29/1/2009 viết: "Vào lúc 8g10 ngày 29-1 lực lượng an ninh sân bay Pleiku qua soi chiếu đã phát hiện một quả lựu đạn còn nguyên trong túi xách của hành khách Trần Thị Lệ Duyên (23 tuổi) trú tại 17 Lê Vĩnh Huy, Quận Hải Châu TP Đà Nẵng đi trên chuyến bay VN 343 từ Gia Lai về Đà Nẵng";

Photobucket

Báo Pháp Luật TP HCM ngày 29/1/2009 đăng lại bài của báo Tuổi Trẻ như sau: "Vào lúc 8 giờ 10 ngày 29/1 lực lượng an ninh sân bay Pleiku qua soi chiếu đã phát hiện một quả lựu đạn còn nguyên trong túi xách của hành khách Trần Thị Lệ Duyên (23 tuổi) trú tại 17 Lê Vĩnh Huy, Quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng đi trên chuyến bay VN 343 từ Gia Lai về Đà Nẵng.";
Photobucket

Báo Dân Trí ngày 29/1/2009 viết: "Lúc 8h10 ngày 29/1, Lực lượng An ninh sân bay Pleiku (Gia Lai) qua soi chiếu đã phát hiện một quả lựu đạn trong túi xách của nữ hành khách Trần Thị Lệ Duyên". Tôi đặc biệt nhấn mạnh tin này Dân Trí đăng lại từ nguồn Thông Tấn Xã Việt Nam chớ chẳng phải đùa đâu nhá!
Photobucket

Báo điện tử VnExpress ngày 30/1/2009 viết: "Sáng mùng 4 Tết, khi làm thủ tục cho hành khách từ sân bay Pleiku (Gia Lai) đi Đà Nẵng, lực lượng an ninh phát hiện trong hành lý của Duyên có một trái lựu đạn được gói trong hộp giấy. Vị hành khách này lập tức được cách ly, đưa về cơ quan công an để lấy lời khai.";

Photobucket

Báo Người Lao Động ngày 30/1/2009 viết: "Theo TTXVN, trước đó, Duyên lên Gia Lai thăm người yêu đang công tác tại Trung đoàn 38 đóng tại huyện Đắc Pơ. Trước khi về, Duyên được Nguyễn Thành Khoa- bạn của người yêu, gửi một ''món quà'' nhờ mang về địa chỉ 409 Núi Thành (Đà Nẵng). Do ''món quà'' của bạn người yêu được gói kín trong bao bì, nên Duyên tin tưởng và không hề kiểm tra.

Đến ngày 29-1, trong khi làm thủ tục cho chuyến bay VN 343 từ Gia Lai về Đà Nẵng, an ninh sân bay Pleiku đã phát hiện trong túi xách của Duyên có một quả lựu đạn nên đã tiến hành lập biên bản và bắt giữ Duyên giao cho cơ công an điều tra làm rõ sự việc. Sau đó vụ việc được chuyển qua Cơ quan điều tra hình sự khu vực 5 (Quân Khu 5)"; NLĐ cũng dẫn nguồn của Thông Tấn Xã Việt Nam.

Photobucket

Tuy nhiên, đến ngày 30/1/2009 thì báo PL TPHCM có bài viết tự mâu thuẫn với bài của mình trước đó (không đăng hình cô Duyên nữa, có lẽ báo PL TPHCM cũng tự thấy hình và bài viết "đá" nhau quá xá), các báo khác đều đồng loạt đăng lại bài của báo Pháp Luật TPHCM, nội dung dẫn nguyên văn lời ông Thượng tá Phạm Ngọc Khoa, Phó Trưởng phòng Tham mưu, Cục Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ Công an rằng: "Theo thông tin ban đầu, cô Duyên nhận thấy gói quà hơi khác thường nên đã chủ động báo cho lực lượng an ninh sân bay Pleiku kiểm tra, phát hiện có lựu đạn trong đó. Theo quan điểm cá nhân tôi, cô Duyên là người chủ động khai báo nên không bị xử lý hình sự hoặc xử phạt hành chính. Còn người gửi trái lựu đạn đó tùy theo mục đích mà xử lý, nếu mục đích nhằm giết người thì sẽ bị khởi tố”.

Photobucket

Riêng báo Thanh Niên ngày 31/1/2009 vẫn bảo vệ quan điểm ban đầu của mình: "Theo lời chị D., vật nói trên được bạn của người yêu chị (công tác tại một đơn vị thuộc Quân khu 5, đóng ở Gia Lai) gói trong hộp quà, nhờ chị đem về Đà Nẵng. Khi chị D. làm thủ tục tại sân bay thì bị lực lượng an ninh phát hiện".

Photobucket

Vậy là sự việc đã quay ngoắt theo một hướng khác, từ "bị lực lượng An ninh soi chiếu phát hiện" sang "chủ động báo cho lực lượng an ninh" (Cái sự "chủ động báo" này có thể được tặng Giấy khen hay Bằng khen nữa à nhe!).

Năm ngoái, có 3 vị khách (ở Sài Gòn) chỉ nói đùa có bom trên máy bay đã bị phạt 50 triệu đồng và bị cấm bay.

Sau khi đọc tất cả bản tin trên thì tôi có nhận xét:

Các tờ báo nói trên, đặc biệt là báo Thanh Niên và báo Tuổi Trẻ, nếu chưa kịp "học thuộc" "bài học đăng tin trung thực, chính xác" của hai nhà báo Nguyễn Việt Chiến và Nguyễn Văn Hải vừa rồi, nay lại "tái phạm" thì coi chừng các tờ báo đã đăng tin về cô Duyên ngày 29/1 và 30/1 (kể cả Thông Tấn xã Việt Nam) sẽ được "dạy cho bài học thứ 2" giống như hai nhà báo Chiến, Hải và 2 ông Tổng Biên tập Nguyễn Công Khế, Lê Hoàng; hoặc là người dân biết việc chỉ có thể ngước mặt lên Trời mà kêu rằng: "Than ôi! Phong hóa suy đồi!" (bắt chước cụ Vũ Trọng Phụng), có một vụ "chạy tội", "chạy dư luận" đã "thành công tốt đẹp".

Tạ Phong Tần

.

30/01/2009

CHÂN DUNG PHÁI TOÀN LƯNG

.
"Quần hùng thiên hạ" đều biết các bang phái nổi đình nổi đám lừng lẫy chốn "giang hồ" ở bên Tàu là: Thiếu Lâm, Không Động, Thái Sơn, Nga Mi, Toàn Chưn. Tết Kỷ Sửu này, tại hạ phát hiện ngay trung tâm Sài Gòn có một phái mới xuất hiện và có vẻ đang phát triển rầm rộ, đệ tử rất đông đảo nhằm mục đích tranh một "ghế" trong Võ Lâm Ngũ Bá, đó là phái Toàn Lưng.

Mời chư vị bằng hữu xem chân dung Giáo chủ, Phó Giáo chủ và các đệ tử phái Toàn Lưng dưới đây:

Tạ Phong Tần

29/01/2009

XIN CHO TÔI ĐỪNG GẶP NGƯỜI NHẬT

.

Khi nói về những thanh niên Việt Nam đi làm thuê ở Nhật (được các quan chức có trách nhiệm đặt cho tên gọi một các mỹ miều là “tu nghiệp sinh”), ông Tanaka Masao- Cảnh sát viên Nhật Bản phát biểu với báo chí: “Tôi không thể tưởng tượng và hiểu được, tại sao một dân tộc có 4.000 năm văn hiến, dũng cảm, lại để thế hệ con cháu phải đi làm nô lệ ở xứ người như vậy”.

Báo Yomiuri Shimbun (Tokyo) ngày Chủ Nhật (25/1/2009) cho hay: Phi công Ðặng Xuân Hợp- người bị cảnh sát Nhật bắt về tội chuyển hàng ăn cắp về Việt Nam trên các chuyến bay của hãng hàng không quốc doanh Vietnam Airlines, đã thú nhận với Cảnh sát Nhật một sự thật ô nhục là: “Tất cả các đồng nghiệp của tôi đều cũng làm như tôi.”.

Những người mà ông Tanaka Masao đề cập là những người lao động nghèo buộc phải “tha hương cầu thực” cam chịu bị làm nhục như nô lệ để bán sức lao động một cách rẻ mạt, còn nghề hàng không ở Việt Nam được xem là “nghề sang trọng”, “quý tộc” không phải ai cũng có điều kiện làm, họ không “đói” như các “nô lệ ở xứ người” theo cách nói của ông Tanaka Masao.

Theo các nguồn tin không chính thức lan truyền trên mạng Internet thì “muốn làm tiếp viên trên các chuyến bay Quốc tế, không ít các tiếp viên đã mất hàng chục ngàn USD” hoặc phải có chú Ba, bác Bảy, cô Tư gì đó “gởi gắm”. Khách hàng của Vietnam Airlines phàn nàn rằng “lương cuả chiêu đãi viên Việt Nam rất cao so với mức chung và dĩ nhiên lương phi công còn cao hơn thế nhiều. Thế mà họ không chăm chỉ, nhiệt tình”. Như vậy, các nhân viên Vietnam Airlines không phải có đời sống thiếu thốn so với mặt bằng công nhân lao động ở các nhà máy, phân xưởng ở Việt Nam. Họ có tiền nhiều để “chạy” cho mình một công việc được coi là “thơm thảo”, họ có mức lương cao tuy không thể làm giàu nhưng cũng đủ cho một cuộc sống sung túc hơn người, họ không bị cái đói thúc bách, giày vò; nhưng họ vẫn tham gia vào một tổ chức tội phạm ăn cắp. Tôi nhớ lại, trong tất cả những vụ án tham nhũng đã bị phanh phui từ trước đến nay, thì những kẻ càng giữ chức vụ to, càng giàu có thì ăn cắp của công, nhận hối lộ càng nhiều, tức những kẻ làm nhục danh dự quốc gia đều là những kẻ lắm tiền, động cơ phạm tội của họ không có lý do gì “thông cảm” được.

Ở một vụ án nổi đình nổi đám khác, khi phía Nhật đã đem công dân nước họ ra Tòa xử từ lâu vì tội đưa hối lộ cho quan chức Việt Nam trong các dự án ODA thì phía Việt Nam vẫn “lờ đờ như lục bình trôi sông”. Dư luận đặt câu hỏi: Phải chăng hệ thống tư pháp Nhật điều tra, xét xử xập xệ, đã xử tù oan cho công dân Nhật? Trong mắt người Nhật, họ nghĩ gì về người Việt Nam? Ông Mitsuo Sabaka -Đại sứ Nhật tại Việt Nam đã trả lời bằng hành động rằng Nhật tạm ngừng mọi dự án ODA mới có lãi suất ưu đãi cho Việt Nam tới khi có kết luận cuối cùng về nghi án hối lộ của Công ty Tư vấn quốc tế Thái Bình Dương (PCI).

Là công dân Việt Nam, tôi cảm thấy nhục nhã khi nhiệm vụ chống tham nhũng trong phạm vi nước Việt Nam phải là của người Việt Nam, nhưng người Việt Nam không làm được, khiến cho người Nhật “ngứa mắt ngứa mũi” phải thò tay thò chân vào can thiệp bằng biện pháp “cắt nguồn tài chính” nhằm đòi hỏi Chính phủ Việt Nam phải có quyết định dứt khoát, cứng rắn; tôi càng thấy nhục hơn khi nước tôi bị bọn “thối nát, giãy chết” “dứt sữa” đột ngột mà có người còn hí hửng khoe rằng: “Hội nghị lần này thành công”, chẳng khác nào nói rằng: “May quá, nó vẫn còn chừa cho ta cái quần tà lỏn 5 tỷ!”.

Là công dân Việt Nam, lại đang sống trên đất nước Việt Nam, tôi không thể cầu mong những người Nhật đến Việt Nam nhìn thấy tôi mà tưởng nhầm tôi là người Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan…; nên tôi chỉ còn cách cầu mong ơn trên cho tôi ra đường đừng gặp bất cứ một người Nhật nào để tôi không phải nhục nhã cúi đầu trước họ.

Tạ Phong Tần

____________

Nguyên văn bản tin tiếng Anh của tờ Yomiuri Shimbun

Vietnam Airlines crew allegedly smuggled goods into, out of Japan

The Yomiuri Shimbun

Several crew members of Vietnam Airlines are suspected to have been involved in a large-scale operation to smuggle articles stolen in Japan out of the country and smuggle foodstuffs into the country in large numbers of suitcases and cardboard boxes brought on their flights from Vietnam, according to police sources.

Dang Xuan Hop, a 33-year-old Vietnam Airlines copilot, was arrested in December on suspicion of attempting to take to Vietnam items stolen by Vietnamese crime groups in Japan. Prosecutors indicted him on charges of transporting stolen goods on Jan. 7.

A special investigation headquarters comprising 14 officers from the Yamaguchi, Saitama and Hyogo prefectural police forces has been investigating the case in an effort to grasp the whole picture of the alleged smuggling, suspecting that Dang was involved in an organized crime in which flight crew put in their luggage items stolen in Japan for resale in Vietnam.

According to police investigators, pilots and crew members of Vietnam Airlines had been bringing unusually large quantities of baggage each time they arrived in Japan, telling customs inspectors that the suitcases and cardboard boxes contained "souvenirs."

The police believe they brought in foodstuffs such as frozen eel in their baggage from Vietnam and took out massive amounts of Japanese cosmetics when they flew back to Vietnam. When crew members told customs officials that the items were for their own use or that they were souvenirs for their family and friends, the officials were obliged to let them go, according to sources.

According to the police, Dang has admitted receiving money for transporting stolen items from Japan to Vietnam. He was quoted by the police as saying, "All my colleagues were doing the same thing."

The special investigation headquarters believes other crew members were paid to bring items into and out of Japan regularly. An official of Narita Airport said, "Vietnam Airlines crew members take much more luggage with them than those from other airlines [when they enter Japan], even for short stays."

(Jan. 25, 2009)

.

28/01/2009

KHÔI HÀI TREO CỜ

.
Kiểu này được tui "bình chọn" là "đặc biệt ấn tượng nhất": Có tính "văng hóa rân tộc" gợi nhớ câu ca dao: "Lá xanh cành đỏ hoa vàng/ Là đà mặt đất đố chàng giống chi?"


Người dân Sài Gòn treo cờ ngày Tết Kỷ Sửu. Ở đây tui chỉ mới sơ qua vài con đường mà chụp ảnh đến mõi tay vẫn chưa hết các kiểu treo cờ đầy "ấn tượng", nếu các bạn có dịp đi hết các con đường bảo đảm các bạn sẽ còn bắt gặp nhiều kiểu "đặc biệt ấn tượng" hơn. Dưới đây là một vài kiểu tiêu biểu:

Kiểu "Núp lùm": E thẹn núp sau lùm cây, chen chúc trong chậu kiểng hay dưới các tấm panô quảng cáo


Photobucket

.
Photobucket
Đố thấy cờ treo chổ nào?
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.

Kiểu "Khiêm tốn":


Photobucket

.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
"Nghe đồn" chủ nhà này là cán bộ Công an
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.

Kiểu "tiến công": (Chỉa mũi nhọn về phía "kẻ thù" vô hình)


Photobucket

.

Kiểu "Dựa bóng tùng quân":
Photobucket

.

Kiểu "Giẻ lau nhà": (Giẻ lau có phần trắng trẻo sạch sẽ hơn)


Photobucket

.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Photobucket
.
Tạ Phong Tần
_______________

Xem thêm:

Các kiểu treo cờ kinh dị Tết Mậu Tý (2008)
.