01/01/2009

KHAI BÚT ĐẦU NĂM 2009: SHOW HÀI “ĐẺ NGƯỢC”

.

Kế thừa truyền thống và tinh thần hài hước của người Việt, như kế hoạch đã thông báo trên blast, năm 2009 CL&ST không viết “ngay băng” những chuyện báo Nhà nước không dám đăng (dù nó có thiệt chăm phần chăm) mà sẽ chuyển sang viết “chiện dzui” theo cách viết của các cụ Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan.

Nếu bên truyền hình có gams show “Vượt Lên Chính Mình” được khán giả nồng nhiệt tán thưởng thì blog Công Lý và Sự Thật đúng ngày 01/01/2009 năm mới cũng có show hài “Đứng Trên Pháp Luật” do Bộ Thông tin - Truyền thông trình diễn, đạo diễn được ủy quyền công khai là quý Ngài Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn (nhân dạng của Ngài có phần giống đến 95% một nhân vật trong tiểu thuyết của cụ Nguyễn Công Hoan. Tôi thật bái phục cụ Nguyễn có con mắt như thần, nhìn suốt không gian và thời gian, thấy trước cả quá khứ, tương lai). Tác phẩm “ĐẺ NGƯỢC” trình làng với tên gọi đầy đủ là: Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT ngày 18/12/2008 “Hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet”. (Sau đây xin gọi tắt là TT 07).

.

I- QUY TRÌNH “ĐẺ XUÔI”

Trước khi chứng minh cho bạn đọc thấy cái TT 07 kia là “tác phẩm hài”, tôi nhất thiết phải trình bày cho bạn đọc biết phân biệt với tác phẩm “Đẻ xuôi” được viết bằng thủ pháp “chính kịch” thì phải theo những nguyên tắc như sau:

Vài nguyên tắc cơ bản khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật: (Trích từ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1997 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi bổ sung năm 2002)

- Khái niệm: Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm:

1- Văn bản do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, luật, nghị quyết ;

Văn bản do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành: pháp lệnh, nghị quyết;

2- Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác ở trung ương ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

a) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;

b) Nghị quyết, nghị định của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

c) Quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ;

d) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

đ) Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị - xã hội;

3- Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân.

(Điều 1)

- Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:

Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất.

Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản trong hệ thống pháp luật.

Văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành.

(Điều 2)

- Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật:

Văn bản quy phạm pháp luật quy định hiệu lực về thời gian, không gian và đối tượng áp dụng.

(Điều 4)

° Hiệu lực về thời gian: Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định rõ thời gian ban hành, thời gian văn bản có hiệu lực thi hành. Luật pháp Việt Nam được áp dụng nguyên tắc “luật bất hồi tố”, tức những sự việc đã xảy ra trước khi ban hành quy định cấm thì không bị truy cứu trách nhiệm, luật chỉ hồi tố khi việc hồi tố có lợi cho người dân, bất lợi thì không hồi tố. Ví dụ: Điều 7 Bộ Luật Hình Sự.

° Hiệu lực về không gian: Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định rõ không gian áp dụng như: lãnh thổ, lãnh hải, không phận thuộc chủ quyền nước Việt Nam, người nước ngoài phạm tội trên phạm vi nước Việt Nam thì áp dụng luật nào, v.v…

° Đối tượng áp dụng: là đối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật đó, cụ thể: công dân nước nào, độ tuổi bị điều chỉnh, năng lực pháp luật… Ví dụ: Điều 12 Bộ Luật Hình sự.

- Ngôn ngữ của văn bản quy phạm pháp luật

Văn bản quy phạm pháp luật được thể hiện bằng tiếng Việt.

Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải đơn giản, dễ hiểu. Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung, thì phải được định nghĩa trong văn bản.

(Điều 5)

Nghĩa là ngôn ngữ sử dụng trong soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải là đơn ngữ, trực tiếp, tức đọc lên ai cũng hiểu theo 1 nghĩa thống nhất chớ không thể suy diễn theo nhiều cách trái ngược nhau, không được sử dụng cách viết bóng gió, hiểu ngầm, ám chỉ. Đối với những thuật ngữ, vấn đề mới chưa được quy định trong các văn bản pháp luật đã có thì văn bản mới ban hành muốn sử dụng phải có định nghĩa, giải thích rõ thuật ngữ ấy.

- Thông tư là để hướng dẫn:

Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ được ban hành để hướng dẫn thực hiện những quy định được luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ giao thuộc phạm vi quản lý ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.

(Khoản 3 Điều 58)

Nhiệm vụ của Thông tư là hướng dẫn, giải thích, làm rõ thêm chi tiết những vấn đề được quy định tại Luật, Nghị Quyết, Pháp Lệnh, Quyết định… Cơ quan ban hành Thông tư không được tự mình ban hành thêm quy định mới không có trong nội dung văn bản mà Thông tư hướng dẫn.

.

II- “CHA MÙ MỜ”

Điều 2 Nghị định 97/2008/NĐ-CP quy định đối tượng áp dụng là “đối với các tổ chức, cá nhân tham gia việc quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet tại Việt Nam”. Là đối tượng có hành vi trực tiếp, tức chính cá nhân, tổ chức “quản lý, cung cấp, sử dụng” mà có hành vi vi phạm vào Điều 6 thì cá nhân, tổ chức đó mới phải chịu trách nhiệm. Cá nhân, tổ chức không chịu trách nhiệm đối với hành vi của bên thứ 3.

Nguyên tắc cá nhân, tổ chức tự mình chịu trách nhiệm hành vi của mình, không chịu trách nhiệm về hành vi của cá nhân, tổ chức khác cũng là nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành (Trừ trường hợp bồi thường thiệt hại theo quy định tại các Điều 606, 621, 622 Bộ Luật Dân Sự).

Điều 6 Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet” quy định:

Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Lợi dụng Internet nhằm mục đích:

a. Chống lại nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

b. Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại và những bí mật khác đã được pháp luật quy định;

c. Đưa các thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức; danh dự, nhân phẩm của công dân;

d. Lợi dụng Internet để quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật.

2. Gây rối, phá hoại hệ thống thiết bị và cản trở trái pháp luật việc quản lý, cung cấp, sử dụng các dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet.

3. Đánh cắp và sử dụng trái phép mật khẩu, khoá mật mã và thông tin riêng của các tổ chức, cá nhân trên Internet.

4. Tạo ra và cài đặt các chương trình virus máy tính, phần mềm gây hại để thực hiện một trong những hành vi quy định tại Điều 71 Luật Công nghệ thông tin.

- Đọc nội dung các điều cấm trên thì thấy điểm b khoản 1 không liên quan đến dân mà liên quan đến cán bộ Nhà nước, chỉ cán bộ Nhà nước mới biết những cái gì thuộc “bí mật” Nhà nước, cái gì nằm trong danh mục “bí mật”, cái gì nằm ở phạm vi “bật mí”, dân thì có tiếp cận, có nắm được “bí mật” gì đâu mà sợ dân “bật mí”, vì vậy tôi không bàn ở đây.

- Nội dung điểm d khoản 1 cũng tương đối rõ, vì có câu “thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật”, nghĩa là trước khi muốn “quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ” gì đó thì lấy cái danh mục Nhà nước đã ban hành ra mà đối chiếu, nếu những điều định làm có tên trong danh mục ấy thì thôi, nếu không thì cứ vô tư, thoải mái. Bởi người dân được làm tất cả những điều pháp luật không cấm, còn cán bộ muốn xử lý dân về bất cứ lãnh vực nào cũng đều phải chiếu theo quy định cụ thể của từng điểm, điều, khoản rõ ràng của văn bản quy phạm pháp luật, hành vi vi phạm phải trùng khớp với quy định thì mới xử lý được, nếu không thì thôi, không được quyền áp dụng “hình như”, “tương tự”…

Ví dụ: Bộ Luật Hình Sự chỉ quy định các tội trộm cắp, cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, .v.v… đối tượng bị xâm hại luật quy định tài sản. Do đó, các hành vi trộm cắp, cướp, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, lừa đảo chiếm đoạt… giấy tờ tùy thân của người khác, giấy tờ về quyền sở hữu tài sản, văn bằng, chứng chỉ của người khác, v.v… lại không phải là phạm tội hình sự vì các hành vi này không được quy định trong Bộ Luật Hình Sự. Việc xử lý các hành vi này được quy định ở các văn bản luật khác.

- Điểm c khoản 1 quy định tuy chưa cụ thể nhưng vẫn có thể hiểu được “xuyên tạc, vu khống” tức là thông tin sai sự thật, chuyện không nói có, chuyện có nói không, hoặc trích dẫn cắt đầu cắt đuôi câu nói, bài viết của người khác rồi “si diễn” theo nghĩa xấu làm mất uy tín người viết, người nói câu bị trích dẫn ở trên.

- Khoản 2, 3, 4 quy định hành vi vi phạm tương đối rõ ràng, cụ thể, người dân không cần trình độ văn hóa cao đọc vẫn hiểu được.

- Riêng điểm a khoản 1 thì mù mờ, khó hiểu, đọc lên nghe như trẻ nít ê a đọc Tam Tự Kinh chữ Nho có dò có dọc, có vần có điệu mà chẳng hiểu nghĩa câu là gì.

° Chủ nhân blog có hành vi “Chống lại nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cụ thể là gì? Viết câu “Đả đảo Đảng Cộng Sản Việt Nam” (không phải Nhà nước) có phải là “chống Nhà nước” không? Hay viết: “Quan chức Việt Nam trong nước thì tham nhũng, hối lộ; đi ra nước ngoài thì ăn cắp, buôn lậu; xuất khẩu lao động thì như buôn nô lệ” (dĩ nhiên có dẫn chứng cụ thể) có phải là “chống Nhà nước” không? Hay phê phán, chỉ trích một khuynh hướng, phương pháp sai lầm của Nhà nước thì có phải là “chống Nhà nước” không?

° Như thế nào là viết blog mà “gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” thì chính tôi cũng chịu chết không hiểu nổi. Viết bài xúi giục người khác đánh nhau, đâm thuê chém mướn, tạt acid, cướp có vũ khí, buôn ma túy chăng? Nếu “xúi” mà người đọc không thèm để ý đến, không thèm đọc (có khi người đọc còn chửi chủ nhân của blog đó hơi bị khùng nữa) thì chủ nhân blog đó có vi phạm không?

° Viết blog mà “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân” là phá hoại như thế nào? Chuyện ai cũng biết là cách đây không lâu có cô bé “dại mồm” đã lên blog mình viết 1 bài chê Hà Nội, vậy là cô bé bị hàng ngàn blogger khác tới tấp “dạy cho bài học” dám “phân biệt Bắc Nam” đến mức cô bé không phản ứng kịp nên phải đóng blog. Như vậy cô bé đó có “phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân” hay không?

° Viết blog mà “tuyên truyền chiến tranh xâm lược” nghe còn ngô nghê hơn nữa. Cái này các vị soạn thảo Nghị định đã quá lo xa. Ai cũng biết một thực tế là nước Việt Nam nhỏ bé, dân tộc Việt Nam nghèo, trình độ dân trí, kinh tế Việt Nam không dám so sánh với các nước phát triển ở châu Âu, chỉ so với các nước trong khu vực thì Việt Nam đã “chạy sau đuôi” người ta rồi, hơi sức đâu mà đi xâm lược người khác. Xâm lược thiệt người ta cũng không sợ, nói gì đến chuyện “đánh võ mồm” trên mạng chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ. Vừa rồi có tên điên bên Trung Quốc tung lên mạng china.com một bài bằng chữ Tàu đòi “Bình định Việt Nam trong 30 ngày”; nếu blogger Việt Nam nào đó, vô phúc cho hắn biết đọc chữ Tàu và hắn cũng biết nhục, biết tự ái dân tộc nên cũng post blog mình một bài chữ Việt “Làm cỏ Trung Hoa trong 3 ngày” để “đánh trả” thì hắn có bị nhà cầm quyền Việt Nam coi là “tuyên truyền chiến tranh xâm lược” không nhỉ?

Hay phía Trung Quốc họ cho đăng bài trên báo, trên mạng thông tin Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền của họ, các blogger Việt Nam đăng thông tin “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đánh đuổi Trung Quốc ra khỏi Hoàng Sa, Trường Sa” thì có bị nhà cầm quyền coi là “tuyên truyền chiến tranh xâm lược” hay không?

° Viết blog mà “gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo” là như thế nào? Ví dụ: Tôi theo một tôn giáo A nào đó, suốt ngày tôi cứ viết bài ca ngợi cái tôn giáo A của tôi đến tận mây xanh mà không thèm để mắt đến tôn giáo khác thì có bị coi là “gây hận thù, mâu thuẫn” hay không?

° Như thế nào là viết blog mà “Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan”? Sex cỡ nào thì “nghệ thuật” mà sex cỡ nào là “nghệ thực”, đánh đấm cỡ nào là phim “võ thuật” mà cỡ nào bị coi là “bạo lực”, cỡ nào là “liêu trai chí dị” mà cỡ nào là “mê tín dị đoan”, v.v…? Lĩnh vực này ngay cả các nhà làm phim, các nhà biên kịch, các nhà quản lý, thẩm định tác phẩm vẫn còn tranh cãi nhau bất phân thắng bại, nơi cho phép lưu hành, nơi bảo là không; thì lấy tiêu chí nào để người viết blog dựa vào đó mà phân biệt cái ranh giới “được phép-không được phép” chỉ bằng một câu chung chung, tối nghĩa ở trên?

° Thế nào là “phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc”? Lấy chuẩn mực nào để phân biệt điều này? Ai cũng biết phụ nữ Việt có truyền thống kín đáo, e ấp, vậy cô “Thiếu nữ ngủ ngày” hớ hênh, tô hô của bà Hồ Xuân Hương có “phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc” không?

.

III- “CON ĐẺ NGƯỢC”

Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT ngày 18/12/2008 “Hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân trong Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 08 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet”, đáng lẽ phải đi sâu vào giải thích, cụ thể hóa những điểm còn mù mờ, khó hiểu của Nghị định số 97/2008/NĐ-CP, cụ thể là các khoản 1, 2, 3, 4 của Điều 6 để người dân dễ hiểu mà thực hiện, thì các vị soạn thảo Thông tư số 07/2008/TT-BTTTT lại “đẻ ngược” bằng cách tự cho phép mình thêm vào các quy định mới.

Đúng ra, TT 07 phải lần lượt nêu định nghĩa, giải thích rõ từng ý, từng câu trong Điều 6 Nghị định 97/2008/NĐ-CP nghĩa là gì, hành vi vi phạm cụ thể ra sao, thì đàng này TT 07 không định nghĩa, không giải thích mà lại thêm quy định mới, đọc xong càng thấy mù mờ hơn.

Cụ thể:

- Điểm 3.1 TT 07 quy định: Lợi dụng trang thông tin điện tử cá nhân để cung cấp, truyền đi hoặc đặt đường liên kết trực tiếp đến những thông tin vi phạm các quy định tại Điều 6 Nghị định số 97. Hành vi này hoàn toàn không được quy định tại Nghị định 97. Nhiệm vụ của TT 07 là “giải thích, hướng dẫn” Nghị định 97, không phải là đặt thêm quy định. Tự đặt thêm quy định trỏ ngược về Nghị định 97 tức là TT 07 đang “đẻ ngược” đó. Mặt khác, “lợi dụng” tức là hành vi cố ý. Đối tượng điều chỉnh của Nghị định 97 là đối tượng trực tiếp, thì Thông tư giải thích Nghị định 97 không có quyền thay đổi chủ thể bị điều chỉnh. Như vậy, việc “lợi dụng” phải được hiểu là chính chủ nhân blog đó “lợi dụng” chớ không phải là một kẻ thứ 2, thứ 3. Trong khi TT 07 không ban hành kèm theo được một danh mục những trang nào bị coi là trang vi phạm thì blogger làm sao biết “những thông tin vi phạm” mà hạn chế. Như vậy, khi đó các vị lại mặc tình làm mưa làm gió, sách nhiễu người dùng, các vị thích “si diễn” trang nào vi phạm thì trang đó bị coi là vi phạm. Hay các vị muốn tạo cơ hội cho cán bộ quản lý “đục nước béo cò” chăng?

Vậy mà, ông Lưu Vũ Hải (Cục trưởng Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và Internet, thành viên ban soạn thảo Thông tư 07) còn “si diễn” thêm rằng chủ nhân blog phải chịu trách nhiệm đối với bên thứ 2, bên thứ 3, bên thứ n… nếu blogger đó có ý kiến trong blog mình. Đây rõ ràng là kiểu lý sự cùn, nói lấy được, trong thế giới phẳng thì mọi người đều bình đẳng, đều có quyền phát biểu chính kiến của mình, nói mà bắt buộc ai cũng đồng ý với mình, không cho người khác phản biện thì chỉ có nói với con vật (vì chúng không biết nói lại) chớ không thể nói với con người.

Ví dụ: Blogger A viết bài về một vấn đề nào đó, blogger B phản đối bài viết của A, để ý kiến của mình có thêm “sức nặng”, B trích dẫn nội dung ở một nơi nào đó kèm theo link nguồn trích dẫn để chứng minh rằng lời nói của B là có căn cứ đàng hoàng. Blogger C lại nhảy vô có ý kiến khác và cũng trích dẫn 1 nguồn khác, v.v…. thì A hơi sức đâu mà đi kiểm tra, đối chiếu, so sánh là mấy cái link kia có nằm trong “danh mục cấm”; hơn nữa, “danh mục cấm” cũng chưa có, biết cái nào hợp pháp, cái nào không hợp pháp? Hoặc đơn giản hơn, blogger B, blogger C, hay blogger n có ý kiến rằng tôi đọc thấy cái tin đó tin đó trên trang đó, không kèm link. Ai tò mò cứ việc vào Google search cái tên đó một phát là Google cho kết quả hàng đống đống, cần gì phải có link mới vào được. Cỗ máy tìm kiếm của đại gia Google còn có nhiều rất điều thú vị khác mà những ai thích tìm kiếm thông tin đều biết cả, không có gì che giấu được.

Có lẽ ông Lưu Vũ Hải chưa bao giờ biết tận dụng ưu điểm của Google, ông cũng chưa biết tự lập cho mình một cái blog, chưa bao giờ viết blog, đặc biệt chưa bao giờ được là chủ nhân của một cái blog hơi bị nổi tiếng nên ông Lưu Vũ Hải chưa biết quản lý một cái blog là như thế nào?

- Điểm 3.2 TT 07 quy định: “Tạo trang thông tin điện tử cá nhân giả mạo cá nhân, tổ chức khác; sử dụng trái phép tài khoản trang thông tin điện tử cá nhân của cá nhân khác; thông tin sai sự thật xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” thì không biết điểm 3.2 này giải thích điểm, khoản nào trong Điều 6 Nghị định 97, bởi lẽ nó vừa có một chút “đá” sang điểm c khoản 1, vừa có một chút “đá” qua khoản 3, mà không giải thích rõ ràng đến đầu đến đũa khoản nào.

- Điểm 3.3 quy định: “Truyền bá các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, nghệ thuật, các xuất bản phẩm vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản” là quy định rất chung chung, không rõ ràng. “vi phạm các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản” là vi phạm như thế nào? Ví dụ: Sau khi vinh danh, trao giải cho cố nhà thơ Trần Dần, thì đùng một cái, quyển tuyển tập thơ Trần Dần bị coi là vi phạm, phải thu hồi (chả biết vi phạm quái gì nữa). Dư luận phản đối rầm trời cái sự quy chụp vô lý đó thì người ta bèn phạt vu vơ Nhà xuất bản (lỗi gì chẳng biết, cái này chắc thuộc “bí mật Nhà nước”?) và không thu hồi tác phẩm nữa. Như vậy, căn cứ theo điểm 3.3 nói trên thì rõ ràng là có “vi phạm”, vậy blogger được quyền photocopy, sao chép cho người này người kia (không bán) nhưng lại không được quyền post thơ Trần Dần lên blog mình hay sao?

- Điểm 3.4 và 3.5 quy định: “Sử dụng những thông tin, hình ảnh của cá nhân mà vi phạm các quy định tại Điều 31, Điều 38 Bộ Luật Dân sự”, “Cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân mà vi phạm các quy định về sở hữu trí tuệ, về giao dịch thương mại điện tử và các quy định khác của pháp luật có liên quan” thì lại thấy chẳng ăn nhập gì với quy định tại Điều 6 Nghị định. Thông tư là để giải thích Nghị định cho rõ ràng thêm, nhưng lại đi vơ Điều luật của ngành luật khác vào cho thêm phần… rậm rạp, chớ không giải quyết được điều gì.

Những điều đó luật đã có quy định cụ thể từ lâu rồi, đâu cần chờ đến TT 07 thì người dân mới biết. Ai không tin ngay bây giờ cứ việc vi phạm thử các Điều Điều 31, Điều 38 Bộ Luật Dân sự và luật sở hữu trí tuệ, giao dịch thương mại điện tử xem, thì người đó sẽ biết thế nào là đóng vai “người bị kiện” và nếm cảm giác lạ “hầu Tòa” lập tức, mà vụ ầm ĩ vừa rồi giữa Công ty FPT và Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Việt Nam về website nhacso.com là một ví dụ điển hình.

Tóm lại, TT 07 tự đặt ra quy định mới là vi phạm nguyên tắc hợp pháp, thống nhất của Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; sử dụng ngôn ngữ diễn đạt rối rắm, mơ hồ, đa nghĩa là trái với Điều 5 Luật ban hành VBQPPL. Trường hợp này, theo Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL thì TT 07 phải bị bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành (“Văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền bãi bỏ, đình chỉ việc thi hành”).

.

IV- XA RỜI THỰC TẾ NÊN BẤT KHẢ THI

Nguyên tắc hiện hành của pháp luật Việt Nam là cá nhân, tổ chức có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. Nghĩa vụ chứng minh đối tượng có hành vi vi phạm thuộc về cơ quan quản lý. Nếu cơ quan quản lý chứng minh được đương sự có vi phạm thì cơ quan quản lý mới có thể ra quyết định xử lý, không thì thôi.

Tuy nhiên, thực tế lại từng xảy ra những trường hợp rất ngược đời là cơ quan quản lý mời một anh A, anh B, anh C nào đó đến đơn vị mình, chìa ra một xấp giấy rồi hỏi: “Cái này có phải của anh không? Nếu phải thì xác nhận vào?” là xong.

Nếu như đối tượng bảo: “Không phải của tôi”, “Tại sao tôi phải xác nhận cho các anh? các anh nói nó là của tôi thì các anh chứng minh đi?”, “Các anh nói là biết rõ rồi còn hỏi tôi chi nữa?” thì cán bộ lúc đó sẽ nghệt mặt ra như ngỗng đực. Nếu cán bộ cố nói thêm vài câu kiểu: “Nhưng trong có chúng tôi thấy có hình ảnh này nọ của anh, có phát biểu của anh”. Đối tượng trả lời: “Ô hay, nếu có ai đó lấy hình Thủ tướng, hình Chủ tịch nước, copy những lời phát biểu của các vị ấy rồi tương lên thì cái trang ấy là của Thủ tướng, của Chủ tịch nước à. Các anh đến phủ Thủ tướng, phủ Chủ tịch mà vặn vẹo à? Bảo Thủ tướng, Chủ tịch nước xác nhận cho các anh à? Hay là các anh khúm núm không dám thở một tiếng, chỉ giỏi lên mặt hà hiếp, hạch sách dân đen thôi?” thì cán bộ sẽ tắc tị ngang cổ họng, bảo đảm mấy ngày sau cổ vẫn còn tắc.

Sau khi cơ quan quản lý nhì nhằng chứng minh v.v… và v.v… thì đương sự sẽ khiếu nại và khởi kiện quyết định hành chính ra Tòa. Trong quảng thời gian nhì nhằng ấy đương sự đã kịp “phù phép” blog của mình một cách “tèng téng teng” rồi. (Riêng bên trong cái sự “nhì nhằng chứng minh” ấy sẽ còn lắm điều “thú vị ra trò” mà tôi sẽ nói đến ở một bài khác).

Đây là chỉ nói đến trường hợp các blogger chính danh, có họ tên địa chỉ công khai, không cần dò tìm gì ráo (mà số này lại chiếm rất ít trên mạng). Trường hợp các blogger ẩn danh, giấu địa chỉ IP thì họ có trăm phương ngàn kế, muốn thay đổi blog thì blogger thông báo kín cho Friends của mình sang địa chỉ mới, cái cũ chỉ cần delete 1 phát là biến mất tăm. Đó chưa nói đến những blogger viết tiếng Việt đang ở nước ngoài.

.

V- VÀI VẤN ĐỀ KHÁC

- Năm 213 trước Công nguyên, theo đề nghị của Lý Tư, Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt sách và chôn Nho. Nhà Tần chỉ muốn nhồi nặn dân chúng thành dễ bảo, có kỷ luật. Tự do tư tưởng, tự do ngôn luận là tội nặng nhất. Tứ Thư và Ngũ Kinh của đạo Nho bị xem là phản động vì khiến dân nhớ tiếc trật tự cũ của chế độ phong kiến cát cứ.

Hầu Sinh và Lư Sinh bàn nhau: “Thủy Hoàng tính khí bướng bỉnh, gàn dỡ, chỉ nghe theo mình. Xuất thân là chư hầu, thâu tóm cả thiên hạ, ý chí tự đắc, muốn gì được nấy, tự cho rằng từ xưa đến nay không ai bằng mình, chuyên dùng bọn pháp quan. Nhà vua thích việc hình phạt chém giết để ra uy. Thiên hạ sợ tội muốn giữ bổng lộc không ai dám hết lòng trung. Nhà vua không nghe nói đến sai lầm của mình nên ngày càng kiêu ngạo. Ở dưới thì sợ nép một bề, nói dối để được dung thân”.

Nhà Tần ở ngôi vua được 2 đời, đời thứ 2 là Nhị Thế (Hồ Hợi) quyền hành hoàn toàn rơi vào tay Triệu Cao, đời thứ 3 là Tam Thế (Thế Anh) chưa làm vua được ngày nào đã bị Hạng Vũ giết chết. Khắp nơi đều có binh khởi nghĩa nổ ra, xưng vương cát cứ, nổi bật có Lưu Bang, Hạng Vũ, Anh Bố, Bành Việt

Xem ra cái chiêu “bịt mồm” của Tần Thủy Hoàng không thể tồn tại lâu được mà chỉ khiến lòng dân thêm phẫn nộ.

- Đức Phật Thích ca, Đức Chúa Jesu suốt mấy ngàn năm nay chủ trương đem tình yêu chân thành đến với mọi người, không lọc lừa dối trá, vì vậy mà con người từ Đông sang Tây đời đời nghe theo hai Ngài, tôn kính hai Ngài. Hai Ngài không buộc ai, nhưng tư cách đạo đức của hai Ngài chính là tấm gương để con người tự nguyện noi theo mà không cần dùng sức mạnh cưỡng ép: “Xét lòng hằng sửa đàng siêu thoát/ Giúp kẻ quên mình lộ Tây phương”, “…Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương….”. Hoàng đế Nero dù khoác lên mình bao lụa là gấm vóc đắt tiền, bỏ ra nhiều ngọc ngà châu báu, quyền lực để mua cho mình các danh hiệu họa sĩ, nhạc sĩ, thi sĩ, đủ thứ sĩ, thậm chí đốt cháy cả thành Roma; nhưng trong mắt thần dân Nero chỉ là kẻ bạo chúa ngu xuẩn mà mọi người luôn mong hắn chết cho khuất mắt. Sự dối trá, bịp bợm, sức mạnh bạo tàn chỉ tồn tại nhất thời; tình yêu thương, sự chân thật mới là vĩnh hằng mãi mãi.

- Trong một cuộc chơi tập thể thì mọi thành viên tham dự phải chấp nhận luật chơi chung, chớ không thể vào sân chơi chung mà cứ xài luật riêng của mình, nếu muốn vậy mời anh đi ra chổ khác mà chơi riêng. Ví dụ: Chơi bóng đá là phải chấp nhận Luật của FIFA: chơi bóng bằng chân, bằng đầu trong mọi trường hợp, bất kể cầu thủ cao hay thấp, mập hay ốm. Không thể viện lý do: Vì tôi thấp bé hơn các anh kia nên tôi chơi thêm bằng tay để tăng cường chiều dài của tôi. Trong điều kiện toàn cầu hóa thì một khi anh đã đặt bút ký vào Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền thì anh phải chấp nhận tiêu chuẩn chung trong Tuyên ngôn, nếu không anh có quyền rút lui; còn ký bừa để ra điều ta đây cũng tiến bộ, cũng văn minh, cũng hội nhập mà không thực hiện thì chẳng khác nào tự nhổ nước bọt vào cái uy tín, sĩ diện quốc gia của mình. Có người lại huyênh hoang trước Quốc Hội Châu Âu rằng người Việt nghèo nên chỉ cần ăn là đủ, không cần những thứ khác thì chẳng khác nào bôi tro trát trấu vào Bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Hãy trả cho người dân quyền tự do ngôn luật, tự do báo chí, tự do phát biểu chính kiến. Đó là những giá trị văn minh của nhân loại đã được thừa nhận sau mấy ngàn năm tiến hóa, là những giá trị mà dân tộc Việt Nam đã đổ biết bao xương máu để được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn độc lập. Một thế hệ con người có thể mất đi, một chế độ chính trị có thể bị thay đổi, một thành quách đô thị có thể bị chôn vùi, nhưng những giá trị văn minh nhân loại thì không bao giờ mất đi, không bao giờ thay đổi.

.

* * *

Để kết thúc entry này, tôi muốn nhắc lại một câu trong bài viết cũ của mình: “Hàng rào hữu hiệu nhất chính là lòng người. Lịch sử loài người ghi nhận trong bất cứ cuộc chiến nào, chống lại ý dân là điều bất khả thi. Tính thông minh và khả năng sáng tạo của dân tộc Việt Nam là vô hạn”.

.

Tạ Phong Tần

________

Xem thêm:

Khai bút đầu năm 2008


31/12/2008

TÒA ÁN TỈNH BẠC LIÊU: "ĐỂ LÂU CỨT TRÂU HÓA BÙN"?

.

Ngày 12/12/2008 tôi đã gởi đơn khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh bạc Liêu để khiếu nại về việc Tòa án tỉnh đã không mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đúng quy định.

Nội dung đơn khiếu nại có đoạn:

"Nguyên vụ kiện của tôi đã được Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu thụ lý và xét xử sơ thẩm tại bản án sơ thẩm số 01/2008/HC-ST ngày 26/2/2008. Ngày 24/6/2008 Tòa án nhân dân tối cao đã xét xử phúc thẩm bằng bản án số 16/2008/HCPT hủy án sơ thẩm để “giải quyết lại vụ án theo đúng quy định pháp luật”. Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bạc Liêu đã thụ lý lại số 02/TL-ST ngày 01/08/2008.

Tôi đã gởi Bản tự khai lần thứ 2, Văn phòng Luật sư Pháp Quyền cũng gởi thủ tục Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tôi đến Thẩm phán Dương Mạnh Thắng cùng ngày 28/10/2008. Nhưng đến nay tôi vẫn chưa thấy Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm lại vụ kiện của tôi.

Tôi đề nghị Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bạc Liêu chỉ đạo Tòa Án Nhân Dân Tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa sơ thẩm xét xử lại vụ kiện hành chính của tôi đúng quy định pháp luật, tôi chân thành cảm ơn!".

Tòa án tỉnh bạc Liêu đã nhận được đơn này ngày 15/12/2008, nhưng đến nay vẫn chưa thấy động tĩnh gì, hay là TA tỉnh Bạc Liêu muốn "để lâu cứt trâu hóa bùn" chăng?
.
Tạ Phong Tần

Hồi báo 12-12-2008
Giấy hồi báo của Bưu điện



29/12/2008

TIỀN ĐỒ

.
Tớ nhặt được cái này trên Internet, post lên đây cho bà con xem chơi!
.
.

26/12/2008

CHUYỆN KHÔI HÀI Ở SỞ GIÁO DỤC-ĐÀO TẠO TP HCM

.

Ngày 28/11/2008, Phòng Giáo dục-Đào tạo Q3 gởi văn bản số 273/PGD-TC ngày 21/08/2008 đến chị Nguyễn Thị Mỹ Nghệ. Theo Luật khiếu nại, tố cáo, đương sự không đồng ý cách giải quyết khiếu nại đó thì trong thời gian 30 ngày phải khiếu nại tiếp đến cấp trên, nếu hết thời hiệu mà không khiếu nại coi như đương sự chấp nhận và mất quyền khiếu nại tiếp, vì vậy chị Nghệ tiếp tục có đơn khiếu nại đến UBND Q3 và Sở GD-ĐT.

.

Từ Thanh Tra Sở thích cắt xén luật…

Đầu giờ chiều ngày 15/12/2008, tôi đến Sở Giáo dục - Đào Tạo Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Sở GD-ĐT) để thay mặt chị Nguyễn Thị Mỹ Nghệ nộp đơn khiếu nại đến Thanh tra Sở GD-ĐT. Phải công nhận là Sở này có một nhân viên bảo vệ rất lịch sự với dân, nhưng qua khỏi cửa bảo vệ thì bên trong lại không được lịch sự với dân chút nào.

Sau khi hỏi Phòng của Thanh Tra Sở và được hướng dẫn rõ ràng của bảo vệ, tôi đến một căn phòng bên ngoài đề bảng “Phòng Thanh Tra”. Tôi gõ cửa, một ông khoảng hơn 45 tuổi mặc áo trắng từ trong phòng bước ra hỏi tôi:

- Cô đến có việc gì?

- Chào anh! Em đến nộp đơn khiếu nại.

- Đơn khiếu nại hả. Đưa đây tôi nhận cho.

- Vâng. Anh cho em xin cái biên nhận nhận đơn.

- Không được, tôi bận họp. Vậy thì đem đơn ra phòng tiếp dân, bảo họ nhận dùm Thanh Tra rồi ghi biên nhận cho.

Vậy cũng được. Tôi chào ông ta rồi đi bộ vòng qua Phòng Tiếp dân, gặp một bà khoảng hơn 50 tuổi đang ngồi tại bàn giấy. Bà này chỉ cho tôi xem tấm bảng to đùng sơn trắng vẽ chữ xanh treo chình ình ngay cửa phòng Tiếp dân và nói:

- Ai bảo cô qua đây nộp đơn khiếu nại vậy? Chỉ tùm bậy tùm bạ, mất công người ta đi qua đi lại, người ta không biết lại đổ thừa tôi chỉ qua chỉ lại lòng vòng. Không phải tôi làm khó, nhưng trên bảng ghi rõ ràng đó, nhận đơn khiếu nại về giáo viên là nhiệm vụ của Thanh Tra Sở, tôi nhận là tôi làm bậy nên tôi nhận không được.

- Bên Phòng Thanh Tra nói đang họp nên bảo em qua đây nhờ chị nhận dùm.

- Tôi nhận không được, tôi nhận là tôi làm sai. Nếu họp thì cô chịu khó chờ đi.

Tôi đọc nội dung tấm bảng và thấy bà nói đúng, tôi cảm ơn và chào bà rồi trở qua Phòng Thanh Tra.

Tôi phải đứng ngoài hành lang ngay trước mặt Phòng Thanh Tra suốt từ 14 giờ đến hơn 16 giờ để chờ quý “đầy tớ nhân dân” bên trong họp xong mà nộp đơn. Và tôi lấy làm ngạc nhiên khi Phòng Thanh tra Sở GD-ĐT có chức năng nhận đơn khiếu nại trực tiếp của dân mà không có lấy một cái băng ghế để bên ngoài hành lang cho dân ngồi chờ. Tôi không biết trước tôi đã có bao nhiêu người dân đến đây nộp đơn khiếu nại mà phải đứng chầu chực ngoài hành lang này, nếu có khoảng vài người đi nộp đơn trở lên thì cứ đứng lố nha lố nhố ở đây một cách nhốn nháo như thế này hay sao?

Cuối cùng, cửa phòng Thanh Tra cũng mở cho biết là đã họp xong. Tôi bước vào và được một ông cũng mặc áo trắng ngoài 50 tuổi (không đeo bảng tên, khác ông ban đầu) tiếp tôi.

Ông này sau khi nghe tôi trình bày tôi đến nộp đơn thay chị Nguyễn Thị Mỹ Nghệ, xem giấy ủy quyền của tôi, còn xin photocopy lại 1 bản giấy ủy quyền nữa rồi ông bảo rằng đơn khiếu nại đối với Phòng GD-ĐT quận 3 của chị Nghệ là “không thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở”(?!). Thế sao ông không nói ngay từ đầu cho đỡ mất thời gian, còn đòi xem giấy ủy quyền và photo lại để làm gì vậy?

Sau khi loằng ngoằng một hồi lâu quanh đi quẩn lại với nội dung “Việc khiếu nại của bà Nghệ chưa được UBND Q3 giải quyết xong nên không thuộc thẩm quyền Sở, chừng nào UBND Q3 có quyết định giải quyết thì Sở mới giải quyết”; nhưng khi tôi yêu cầu Thanh tra Sở GD-ĐT “cho vài chữ” rằng không thuộc thẩm quyền của Sở thì Sở có ý kiến vào, nếu không UBND Q3 lại bảo rằng “thuộc Sở”, mà Sở GD-ĐT thì đổ “thuộc Q3”, dân ở ngã giữa biết làm sao, thì một ông (nghe mấy cán bộ khác kêu tên Bổn) nói để ông “xin ý kiến lãnh đạo”.

“Xin ý kiến” xong, ông Bổn lại đòi tôi văn bản của UBND Q3. Khi tôi cứ yêu cầu Thanh tra Sở GD-ĐT “cho mấy chữ” xác nhận “không thuộc thẩm quyền” để tôi đi nộp đơn cho UBND Q3 thì các ông cán bộ này đều lặp đi lặp lại một câu là: “Tôi trả lời chị như thế” mà không chịu ghi vào đơn khiếu nại. Tôi hỏi tiếp: “Anh họ tên gì, chức vụ gì để em về báo với chị Nghệ, chớ các anh không đeo bảng tên, cũng không cho biết họ tên thì biết anh là ai mà trả lời với khách hàng” thì tất cả đều im bặt.

Lúc này lại có một ông và một bà khoảng 40 tuổi (mặc áo xanh) cũng không đeo bảng tên, không chịu xưng tên, bà áo xanh lại “chất vấn” tôi rằng “ủy quyền này không hợp pháp”. Bà áo xanh giải thích dài dòng với tôi rằng “chỉ được ủy quyền cho “cha mẹ, anh chị em ruột với điều kiện những người này không có khả năng khiếu nại”. Bà còn đem quyển Luật khiếu nại tố cáo đến mở ra trước mặt tôi ê a đọc cho tôi nghe điểm a khoản 1 Điều 17 Luật KNTC:

(“Người khiếu nại có các quyền sau đây:

a) Tự mình khiếu nại; trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được uỷ quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại;”).

Bà đang đọc ngon trớn đến chữ “hoặc người khác” thì bà sựng lại. Tôi mới nói:

- Tôi là “người khác” đó chị ơi, chị bỏ cái chổ “người khác” rồi, tôi chính là “người khác” đó.

- Nhưng Luật này người ta có quy định người này chỉ có quyền nhờ Luật sư hướng dẫn…

- Tôi được ủy quyền để đi nộp đơn và liên hệ giải quyết, tôi không hướng dẫn, tôi chính là “người khác” đó, nếu chị nói ủy quyền này không hợp pháp thì tôi kiện Phòng công chứng liền đó.

Bà áo xanh nói trớ lại:

- Không phải ủy quyền không hợp pháp. Công chứng là do hai bên nhờ thì công chứng người ta công chứng là ngày đó tháng đó bên này có nhờ bên kia công chứng.

Nghe bà cán bộ Thanh tra này giải thích tôi cũng “xanh mặt” luôn. Công chứng mà “nhờ”, công chứng tùy thích, ai thích “nhờ” là chứng. Tôi chậm rãi trả lời bà cán bộ Thanh tra áo xanh:

- Thưa chị, tôi cũng xin nói với chị rằng Phòng Công chứng Nhà nước chỉ được quyền công chứng theo quy định tại Pháp lệnh Công chứng và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn kèm theo, trong đó quy định rõ là được công chứng những loại nào loại nào rất là cụ thể, cho nên Phòng Công chứng Nhà nước không thể công chứng bậy không đúng đối tượng được.

Bà áo xanh im lặng mở sách ra rồi bà “ngắt khúc” điểm a khoản 1 Điều 17 để “giải thích” tiếp:

- Đây, luật quy định thế này: “trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất”.

- Cái này là dành cho người không làm chủ được hành vi đó chị, chị Nghệ là người có đầy đủ năng lực hành vi, chị Nghệ bận công việc chớ chị Nghệ đâu bị mất năng lực hành vi đâu chị.

- Vấn đề này UBND Q3 đang thụ lý.

- Tôi cũng biết vấn đề đó, nếu tôi nhớ không lầm thì thì khoảng ngày 27, 28 tháng 11 rồi, chính tôi là người đại diện cho chị Nghệ dự cuộc họp giải quyết ở UBND Q3. Hôm đó chưa có công văn 273 này, và anh Diệu - cán bộ Phòng Tổ chức Phòng GD-ĐT Q3 hứa với tôi là sẽ gởi văn bản này cho chị Nghệ để chị Nghệ khiếu nại.

Lại có một ông khác nói tôi nộp hồ sơ cho ông. Khi tôi đưa và liệt kê ra: “Đây, em nộp cho anh 3 thứ, cái đĩa ghi âm, đơn, văn bản 273, anh ghi cho em mấy chữ là hôm nay anh có nhận những thứ này” thì ông này lại không chịu nhận nữa. Còn bà cán bộ Thanh tra áo xanh thì nói: “Không, tôi nhận và hứa sẽ trả lời khiếu nại này, không cần phải viết biên nhận”.

- Không, nhận thì phải có gì làm bằng cớ để tôi mang về, để sau này quá thời hiệu khiếu nại rồi các anh chị nói không biết, không có nhận đơn thì sao? Chị làm việc với tôi không đeo bảng tên, tôi không biết chị là ai, chị nói chị là cán bộ ở đây nhưng biết có phải vậy không? Anh đây cũng vậy, làm việc không đeo bảng tên, tôi không biết anh là ai cả. Đáng lẽ phải đeo bảng tên đàng hoàng chớ. Nếu các anh chị không nhận thì tôi gởi bằng cách khác, các anh chị cũng bắt buộc phải nhận thôi.

Vậy là những cán bộ trong Phòng Thanh tra ấy liền quyết định không nhận đơn. Tôi chào họ rồi mang tất cả ra Bưu điện quận 3 gởi chuyển Phát nhanh (có hồi báo) đến đích danh Giám đốc Sở GD-ĐT.

Điều đáng nói là tại cuộc họp ngày 21/11/2008, có sự chủ trì của bà Hường - Phó Chủ tịch UBND Q3, anh Diệu - đại diện cho ông Lê Trường Kỳ-Trưởng Phòng GD-ĐT Q3, bà Nhiều- Trưởng Phòng Nội vụ Q3, Phó Phòng Tư pháp Q3 (tôi quên tên); thì bà Hằng - Phó Thanh Tra UBND Q3 lại phát biểu giữa cuộc họp rằng UBND Q3 không có ý ra quyết định giải quyết khiếu nại cho chị Nghệ mà sẽ trả lời bằng văn bản là khiếu nại không thuộc thẩm quyền của UBND Q3 nên giải quyết khiếu nại này thuộc thẩm quyền của Sở GD-ĐT. Những cán bộ có mặt đều đồng tình với ý kiến của bà Hằng.

Cũng cần phải nói thêm rằng khi tôi trình giấy mời của UBND Q3 và giấy ủy quyền để thay mặt chị Nghệ thì lãnh đạo và cán bộ UBND Q3 mời tôi vào phòng họp làm việc với tôi liền, cuộc tiếp xúc diễn ra trong không khí cởi mở, thoải mái, lịch sự, đúng pháp luật, chớ không có ai vặn vẹo tôi rằng “ủy quyền này không hợp pháp” cả.

.

Đến ông Giám đốc Sở GD-ĐT chỉ thích nói chuyện “tình cảm”

8 giờ ngày 25/12/2008, tôi và anh Toàn (chồng chị Nghệ) đến Sở GD-ĐT theo Thư Mời “gởi bà Nguyễn Thị Mỹ Nghệ” số 292/ GDĐT-TTr ngày 22/12/2008 của Chánh Văn phòng Sở GD-ĐT Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung Thư Mời ghi rõ là: “Giải quyết đơn khiếu nại của bà”.

Khi tôi và anh Toàn vào phòng họp, tôi thấy trong phòng đã có 9 người, trong đó những người tôi biết mặt là ông Huỳnh Văn Sang- Hiệu trưởng trường Hai Bà Trưng, cô Hà - Hiệu phó trường Hai Bà Trưng, anh Nguyễn Văn Diệu - cán bộ Phòng GD-ĐT Q3, ông Bổn - Thanh tra Sở GD-ĐT. Một ông đứng tuổi, người mập mạp bảo tôi chờ Giám đốc đến sẽ làm việc, những người khác cắm cúi im lặng đọc báo. Đợi hơn 15 phút, mới thấy một ông đứng tuổi người hơi thấp, da mặt sần sùi (có vẻ như dấu vết còn lại của mụn bọc nhiễm trùng) bước vào.

Ông đứng tuổi mập mạp lúc nãy đứng lên tự giới thiệu là Huỳnh Văn Nam - Chánh Thanh tra Sở GD-ĐT, và giới thiệu ông mặt sần sùi vào sau là ông Huỳnh Công Minh - Giám đốc Sở GD-ĐT, ông Nam giới thiệu thành phần cuộc họp có ông Lê Trường Kỳ- Trưởng phòng GD-ĐT Q3, 2 ông Thanh Tra Sở, vài cán bộ Sở (ông Nam nói nhỏ quá tôi nghe không rõ tên). Như vậy, “phía Nhà nước” tính luôn ông Giám đốc Sở là 10 người (9 nam 1 nữ). Ông Nam giới thiệu thành phần “phía Nhà nước” xong thì ông yêu cầu tôi tự giới thiệu tôi.

Tôi đứng lên tự giới thiệu:

- Tôi là người được bà Nguyễn Thị Mỹ Nghệ ủy quyền thay mặt bà Nghệ để liên hệ với các cơ quan giải quyết khiếu nại (trích phần nội dung ủy quyền trong giấy ủy quyền). Tôi tên là Tạ Phong Tần, tôi có giấy ủy quyền đây, anh Nam có cần kiểm tra giấy chứng minh của tôi không? Còn đây là anh Lê Kiêm Toàn, chồng chị Nghệ, cha ruột của cháu Lê Nguyễn Minh Châu.

Tôi vừa giới thiệu xong thì ông Huỳnh Công Minh nói liền:

- Thật ra tôi không phải là người đi xử kiện, tôi đọc đơn của chị Nghệ tôi bức xúc quá, lại lo cho trẻ con nên mới muốn gặp gia đình để hỏi xem thế nào trong phạm vi của mình thì giải quyết thôi. Còn tôi không xử kiện. Nếu mà xử kiện thì đó là tính cách Tòa án, rất tiếc là không gặp chị Nghệ nên không nói chuyện được.

- Tôi cũng xin có ý kiến với ông Giám đốc Sở là chị Nghệ khiếu nại theo con đường hành chính, không khởi kiện ra Tòa án, thành ra ở đây không xử kiện được, nếu muốn xử kiện thì chị Nghệ khởi kiện ra Tòa án, không khiếu nại ở đây.

- Đúng rồi, tôi thấy yêu cầu công việc nó không đáp ứng được ý nghĩa, mục đích cuộc họp này.

- Không đáp ứng là như thế nào, ông Giám đốc có thể nói rõ ý hơn?

- Về giáo dục, trước hết là tình cảm, quan hệ giữa con người với con người, chưa dùng đến lý lẽ gì hết, từ trước tới giờ tôi cũng chưa theo dõi vụ này, chưa gì hết là chị vô chị làm với tư cách lý lẽ với tôi làm sao tôi giải quyết được. Tôi rất muốn tìm hiểu cái này, thậm chí muốn đến nhà nữa, nhưng công việc hơi khó khăn, nên hôm nay tôi muốn đến tìm hiểu ở cơ quan. Chưa gì hết vô mà tôi thấy chị bắt đầu… Nếu vậy tôi phải có công cụ để đi đi… chứng lý việc này. Tôi không có chuẩn bị tinh thần để làm việc như vậy. Tôi mời chị Nghệ để hỏi chuyện với tư cách phụ huynh, tôi với tư cách một người thầy giáo để trao đổi coi như thế nào. Chưa gì hết chị đọc cái bản như Tòa án, Sở Giáo dục đâu phải Tòa án.

Ngạc nhiên chưa! Ông Giám đốc Sở chỉ đạo cấp dưới ghi rõ nội dung làm việc trong Thư Mời, mà ông lại nói “không chuẩn bị tinh thần để làm việc”, sao kỳ cục vậy? Tôi tự giới thiệu tư cách pháp lý của mình khi đại diện cho chị Nghệ, đúng như yêu cầu của ông Chánh Thanh Tra Sở, tôi không hiểu ông Giám đốc Sở GD-ĐT nói tôi “bắt đầu”, rồi ông ậm ờ trong miệng không nói nữa là ý ông nói “bắt đầu” cái gì? Càng khó hiểu hơn khi ông nói “tôi phải có công cụ để đi đi…” rồi ngắc ngứ mãi mới nói “chứng lý việc này”. Giấy ủy quyền có đóng dấu Công chứng Nhà nước đỏ chót đó, ông muốn xem thì tôi sẳn sàng đưa bản chính cho ông xem chớ “chứng lý” gì nữa? Tôi làm công tác pháp luật hơn mười mấy năm mà tôi chưa bao giờ dùng cụm từ “đi chứng lý”, vì tôi không biết “đi chứng lý” là đi làm cái gì, trong luật cũng không có cụm từ này. Ông Giám đốc Sở GD-ĐT muốn sử dụng “công cụ” gì với tôi? Hay ông cho rằng cần phải kèm theo các công cụ như: dùi cui, roi điện, còng số 8, bình xịt hơi cay, chó săn, v.v… và v.v… mới đủ phương tiện làm việc khi giải quyết khiếu nại của công dân chăng?

Tôi mới nói:

- Ông Giám đốc nói như thế là sai rồi, tôi xin được phép nói, là chổ…

Ông Huỳnh Công Minh chen ngang:

- Thì xin phép hôm nay tôi không làm việc.

Ông Huỳnh Công Minh đã nói một câu rất dài, vì giữ phép lịch sự và tôn trọng ông, tôi kiên nhẫn chờ ông nói hết câu, nhưng khi tôi chưa kịp nói hết câu thì ông Minh đã nhảy vào họng tôi ngồi rồi.

Tôi tiếp tục nói:

- Chổ ông Nam yêu cầu tôi giới thiệu tôi, thì tôi phải giới thiệu đúng như giấy ủy quyền, tôi đâu nói khác được.

- Đúng, chị giới thiệu là đúng! Ông Huỳnh Công Minh nói tiếp.

Tôi không rõ ông Huỳnh Công Minh có “bị làm sao” không mà lời nói của ông mâu thuẫn tùm lum: Ông công nhận tôi tự giới thiệu như vậy là đúng, giấy mời cũng ghi nội dung là mời đến để “giải quyết khiếu nại”, mà ông Minh cho rằng ủy quyền hợp pháp lại “không đáp ứng”?

Anh Toàn giơ tay:

- Tôi xin phép ông Giám đốc Sở có ý kiến. Xin hỏi ông Giám đốc Sở nhận được được đơn khiếu nại của chúng tôi vào ngày nào?

Ông Huỳnh Công Minh không trả lời câu hỏi của anh Toàn mà lãng sang chuyện khác:

- Bây giờ tôi mời chị Nghệ, giờ chị Nghệ không có thì tôi không làm việc được.

Anh Toàn tiếp:

- Thưa ông Giám đốc, trong đơn khiếu nại thì chúng tôi có 3 đơn, đơn 1 và 2 là tôi đứng tên, đơn thứ 3 vợ tôi đứng tên…

Anh Toàn chưa nói hết câu thì ông Huỳnh Công Minh lại nhảy vào cắt ngang, hai người tranh nhau nói, ông Minh mặc cho anh Toàn lặp lại câu “Để tôi nói hết đã”, ông Minh vẫn tranh phần nói trước:

- Bây giờ tôi nói với anh nếu có cái quan hệ tình cảm thì tôi với tư cách thầy giáo, anh tư cách phụ huynh, ngồi lại nói chuyện với nhau, chớ anh là bố mà anh đi mời một người được ủy nhiệm về mặt pháp lý thì tôi thấy chưa gì mà đã có cơ sở quan hệ như vậy khó giải quyết lắm. Tôi sẽ làm một cuộc họp khác đúng như tinh thần của tôi muốn làm. Tôi mới biết, mới tiếp cận chuyện này thôi, và tôi đã gọi điện nói chuyện với chị Nghệ, chị Nghệ hứa sẽ lên, còn hôm nay không mang tính chất xử kiện. Còn mấy anh chị muốn có tổ chức như vậy thì Sở Giáo dục từ trước đến nay chưa có làm.

Cha mẹ ơi, hóa ra từ trước đến đến giờ ai khiếu nại đến Sở GD-ĐT Thành phố Hồ Chí Minh thì Sở đều “sử chiêu” “bình chân như vại”, mặc dân kêu ca thế nào tùy ý, kêu khản cổ thì tự thôi?

Anh Toàn nói tiếp:

- Thưa ông Giám đốc Sở, tôi thiết nghĩ là ông nói mới nhận được đơn khiếu nại của vợ chồng tôi thì ông rất là thiếu sót với ngành giáo dục. Vì đơn khiếu nại tôi đã gởi cho ông cách đây hơn 4 tháng rồi, riêng chỉ đạo từ UBND thành phố xuống Sở Giáo dục cũng cách đây 4 tháng rồi, đã có công văn chỉ đạo trực tiếp từ UBND thành phố, thậm chí gởi Công văn 2 lần xuống chỉ đạo các ông, một lần từ Văn phòng UBND Thành phố, một lần từ Ủy Ban Kiểm Tra Hội đồng nhân dân Thành phố. Vậy mà hôm nay ông nói ông mới nhận được. Tôi thấy ông nói tiếp xúc tình cảm tôi nghe xa rời thực tế quá. Vì vợ chồng tôi đã gặp trực tiếp ông Huỳnh Văn Nam, ông Đậu Đình Nga, 4 lần để trao đổi vấn đề này, đây có ông Nam ngồi đây, mà có khi nào các ông giải quyết đâu, các ông đá banh lòng lòng, hôm nay ông nói ông mới nhận được đơn thì quá vô lý. Vậy đơn tôi gởi cho các ông hơn 4 tháng nay ở đâu? Công văn chỉ đạo của UBND Thành phố các ông nhận các ông bỏ sọt rác hay ở đâu? Ông nói ông mới nhận được là vô lý quá, tôi không hiểu các ông muốn làm cái chuyện gì nữa.

Ông Minh nói:

- Tôi muốn làm cái vai trò của một người thầy giáo để giải quyết cái chuyện của một đứa học sinh bị ức chế trong nhà trường.

Anh Toàn trả lời:

- Thưa ông, vợ chồng tôi đến gặp Thanh tra Sở hơn 4 lần rồi, chuyện này chúng tôi có trình bày rồi…

Ông Minh lại cắt lời anh Toàn:

- Tại anh bức xúc quá, cái hệ thống quản lý tôi giao cho cán bộ của tôi làm, cán bộ làm không xong thì tôi làm. Bữa nay tôi trực tiếp đây nè.

- Ông có biết là cán bộ của ông đã làm 4 lần không xong, thì hôm nay chúng ta bắt tay vào công việc được rồi, ông còn thăm dò gì nữa.

- Tôi gặp trực tiếp đương sự để giải quyết, chớ không thăm dò gì hết.

Ủa, mới hồi nãy tôi nghe ông Giám đốc Sở nói chỉ muốn gặp chị Nghệ nói chuyện tình cảm thầy trò, phụ huynh, mà giờ lại nói muốn giải quyết, nếu muốn giải quyết thì tôi là người thay mặt hợp pháp thì ông còn đòi gì nữa?

Anh Toàn đáp lại:

- Tôi là đương sự trực tiếp, có 2 đơn khiếu nại của tôi, vợ tôi có 1 đơn thôi. Tôi là quan hệ huyết thống, là cha đứa bé, đương nhiên là đương sự trực tiếp.

Ông Minh lại nói:

- Nãy giờ tôi đâu nghe anh nói, tôi chỉ nghe người khác nói thay anh.

Anh Toàn trả lời:

- Đây là người đại diện cho vợ tôi. Cá nhân tôi là đương sự trực tiếp.

Thấy hai người tranh luận sắp sang một vấn đề khác, tôi mới có ý kiến:

- Xin phép quý vị tôi phát biểu một ý kiến này: Tại Thư Mời số 292 ngày 22/12/2008 do Chánh Văn phòng Sở GD-ĐT Lê Hồng Sơn ký có ghi rõ mời bà Nguyễn Thị Mỹ Nghệ đến để “Giải quyết đơn khiếu nại của bà”. Vậy hôm nay, tôi đến đây theo giấy ủy quyền hợp pháp này, như vậy tôi đến đúng quy định pháp luật hay không? Nếu các ông cho rằng tôi đến đây không đúng pháp luật, yêu cầu các ông xác nhận vào đây cho tôi là các ông không chấp nhận tôi làm việc thay mặt bà Nguyễn Thị Mỹ Nghệ theo giấy mời này, tôi đi về, không cần nói gì nhiều. Tôi không đến đây để năn nỉ, van xin ai làm việc hết, mà tôi đến đây đúng quy định pháp luật, đúng quy định Luật khiếu nại tố cáo. Bà Nghệ khiếu nại, thì trách nhiệm của cơ quan nhận khiếu nại là phải giải quyết khiếu nại, còn nếu nói không phải thẩm quyền của các ông thì yêu cầu các ông xác nhận vào đây, chúng tôi đi về và đến khiếu nại chổ khác, đơn giản vậy thôi. Còn muốn tình cảm gì thì xin mời quý vị đến nhà đương sự…

Ông Huỳnh Công Minh lại nhảy vào cắt ngang:

- Ở đây ai làm biên bản đây?

Có tiếng lí nhí trả lời ông Minh. Tôi nói tiếp:

- Thư Mời ghi rõ là để giải quyết đơn khiếu nại mà.

- Ai ghi cái biên bản đi! Ông Minh lại chen vào ngắt lời tôi, nhưng tôi nói tiếp:

- Ông Giám đốc muốn nói chuyện tâm tình riêng gì với bà Mỹ Nghệ thì ghi rõ vào cái thư, là thư riêng, không phải Thư Mời, nói rõ là tôi muốn gặp riêng chị Nghệ để tâm tình gì đó, thì đó là chuyện khác, còn Thư Mời này là khác.

Ông Minh cắt ngang:

- Không phải tâm tình, làm biên bản chị Nghệ không đi dự được nên hôm nay không làm việc!

Tôi tiếp tục nói:

- Quý Sở cứ lập biên bản và cho chúng tôi xin 1 bản, tôi không có quyền lợi gì ở đây cả, tôi chỉ thay mặt bà Nghệ, còn quyền lợi là quyền lợi gia đình chị Nghệ.

Ông Giám đốc Sở vội vã bỏ đi, mọi người lục đục đứng dậy thu dọn giấy má, báo chí trên bàn, rồi cũng vội vã đi hết, không thấy ai viết biên bản, không thấy ai ký biên bản, mà cũng không ai đưa biên bản cho chúng tôi.

Ông Lê Trường Kỳ nán lại nói thêm với anh Toàn rằng sau khi trường Hai Bà Trưng bàn bạc với như đã thống nhất xếp loại cháu Lê Nguyễn Minh Châu “học lực giỏi, tinh thần ổn định”.

Từ đầu đến cuối, ông Sở GD-ĐT luôn lặp đi lặp lại là ông muốn trao đổi riêng với chị Nghệ một cách “tình cảm” (ngay cả chồng chị Nghệ-đương sự trực tiếp có đơn khiếu nại-cha ruột nạn nhân, cũng không được), nhưng ông lại huy động lực lượng “phe ta” đến 10 người (trong đó có 9 người đàn ông) thì tôi không hiểu là trao đổi riêng cái kiểu gì? Giấy tờ đóng dấu đỏ chót của Sở ghi rõ là “giải quyết khiếu nại của bà” mà ông Giám đốc Sở cứ đòi nói chuyện “tình cảm”, phải chăng ông Huỳnh Công Minh đã “đánh rơi” cái chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính của Giám đốc Sở GD-ĐT rồi? Còn những câu hỏi anh Toàn đưa ra thì ông không trả lời được.

Việc ông Huỳnh Công Minh từ chối làm việc với người đại diện hợp pháp của đương sự là ông Minh đã xâm phạm quyền lợi hợp pháp của công dân được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 Luật khiếu nại, tố cáo (sửa đổi bổ sung ngày 29/11/2005), tức ông Minh vi phạm Điều 4, Điều 16 Luật KNTC.

* * *

Ngay trong buổi sáng 25/12/2008, chị Nghệ biết chuyện, đã nổi cơn thịnh nộ: “Tháng trước ông Dũng tự cho mình làm bác sĩ đã ra lệnh buộc con tôi phải hết bệnh trong 4 tuần, bây giờ tới ông Huỳng Văn Sang lại tiếp tục tự cho mình làm bác sĩ kết luận con tôi tinh thần ổn định. Nó vẫn phải đến Bệnh viện lấy thuốc uống, đã hết bệnh đâu. Một đống điểm 0, thi Văn làm bài lạc đề mà học lực giỏi cái gì, trường này họ chỉ muốn nâng điểm con tôi để đối phó với tôi. Bộ gây tai nạn đụng người ta gãy chân, đâm người ta lòi ruột, người ta tự chữa hết bệnh, tốn bao nhiêu công sức, tiền của đổ vào đó, mà lành thương tích thì người gây ra không chịu trách nhiệm gì à? Công bằng, công lý là như thế này sao?”.

Bà ngoại cháu bé thì nói: “Chồng tao theo cách mạng mà chết, cả dòng họ tao đều theo cách mạng, người chết người bị thương là muốn con cháu sau này cung sướng hơn mình. Bây giờ tụi nó làm cho cháu tao bị khùng. Con tao bịnh, nó biết mà nó còn muốn chọc tức con gái tao, ủy quyền nó không chịu mà nó một hai đòi con gái tao, nó muốn giết con tao chết luôn nó mới hả dạ mà”.

.

Tạ Phong Tần

Photobucket

Cháu Minh Châu và mẹ đêm Noel (24/12/2008) tại nhà thờ Hàng Xanh


Photobucket
Cháu Minh Châu “chống khủng bố” cho con gấu cưng của mình

________

Bài liên quan:

- Cháu bé 13 tuổi bị cô giáo "khủng bố" đến "stress cấp"

- Động thái "khỏ hiểu" của ông Hiệu trưởng trường Hai Bà Trưng

- Né tránh và bóp méo sự thật

- Nỗi buồn ngày 20/11 đến từ trường Hai Bà Trưng

- "Tôi sẳn sàng ngồi tù để bảo vệ công lý và lẽ phải"

25/12/2008

CHIỆN DZUI ĐÊM NOEL

.


.

Đêm Noel, tớ đi dự Thánh lễ cùng gia đình một người bạn ở Nhà thờ Hàng Xanh. Không kể chuyện mọi người đến dự lễ mặt mày hớn hở ra sao, quần áo đẹp thế nào, Cha làm lễ trang trọng v.v… và v.v… mà kể chuyện thiếu nhi.

Tớ chứng kiến một cuộc đối thoại rất là dzui mà tớ nghe được tại nhà thờ, xin kể lại cho quý bà con nghe để giảm xì-trét:

.

Linh mục: (Hỏi các cháu thiếu nhi) Ai biết Chúa Hài Đồng sinh ra ở đâu không? Giơ tay lên cho Cha xem nào? À, áo đỏ, mời con!

Cháu áo đỏ: - Chúa sinh ở trong chuồng bò.

Linh mục: - Sao con biết trong chuồng bò?

Cháu áo đỏ: - Vì con thấy có con bò.

Linh mục: - Chúa được sinh ra trong nhà nghèo hay nhà giàu?

Cháu áo đỏ: - Nhà nghèo.

Linh mục: - Sao con biết nhà nghèo?

Cháu áo đỏ: - Vì Chúa hổng có tiền.

Linh mục: - Sao con biết Chúa hổng có tiền?

Cháu áo đỏ: - Vì Chúa hổng có đi làm ở đâu hết.

Linh mục: - …. (!!!!!)



Photobucket
Nhà thờ Hàng Xanh (Bình Thạnh)
Photobucket
Hoạt cảnh Thiên thần mừng Chúa Hài Đồng giáng sinh
Photobucket
Thánh Lễ
Photobucket
Bà già Noel
Photobucket
Và ông già Noel phát quà cho thiếu nhi
Photobucket
Tớ và bạn tớ